Giống lúa hợp nhất là giống có thời gian sinh trưởng vừa với khung thời vụ của vùng, chịu được đúng điều kiện chân ruộng nhà mình (cao hay trũng, phèn hay mặn, chủ động nước hay chờ mưa), ít nhiễm loại sâu bệnh hay gặp ở địa phương, cứng cây, có đầu ra phù hợp, và là hạt giống có nguồn gốc rõ ràng, cấp xác nhận trở lên. Năng suất trên quảng cáo chỉ là một tiêu chí, và thường không phải tiêu chí đầu tiên.
Bài này không giới thiệu tên giống cụ thể, vì giống được khuyến cáo thay đổi theo từng vùng, từng năm và do cơ quan nông nghiệp địa phương công bố. Mục tiêu là giúp bà con có một bộ câu hỏi để tự kiểm, khi đứng trước đại lý hay khi bàn với tổ hợp tác về giống cho vụ tới.
Tiêu chí một: thời gian sinh trưởng phải vừa với khung thời vụ
Thời gian sinh trưởng là số ngày từ lúc gieo tới lúc gặt. Đây là tiêu chí quyết định nhiều thứ nhất, vì nó phải khớp với khoảng thời gian an toàn giữa hai mối nguy của vùng: ở đồng bằng sông Hồng là rét đầu vụ xuân và mưa bão cuối vụ mùa; ở Đồng bằng sông Cửu Long là mặn xâm nhập mùa khô, lũ đầu mùa mưa ở vùng thượng nguồn; ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là nắng nóng gió Lào và mưa bão.
Ở nhiều vùng Nam Bộ làm hai, ba vụ một năm, giống ngắn ngày, thường khoảng 90 đến 100 ngày, gần như là bắt buộc để kịp lứa và né được mặn hay lũ. Ở miền Bắc, vụ xuân có giống ngắn ngày và giống dài ngày hơn, chọn loại nào tuỳ trà xuân sớm hay xuân muộn mà địa phương bố trí, và tuỳ có muốn kịp làm vụ đông hay không. Những con số này chỉ để hình dung; số ngày cụ thể của từng giống ghi trong thông tin giống được công nhận và có thể chênh theo vụ.
Cách kiểm: lấy lịch xuống giống của địa phương làm mốc, đếm ngược từ thời điểm rủi ro cuối vụ (ví dụ đợt mặn về, mùa bão) xem giống định chọn có trổ và chín xong trước đó với khoảng dư an toàn hay không. Một giống tốt nhưng dài ngày hơn khung thời vụ chỉ cần vài ngày là có thể rơi đúng vào lúc trổ gặp rét hoặc mặn, và mọi ưu điểm khác coi như mất.
Chân ruộng khác nhau cần giống khác nhau
Tiêu chí hai là chân ruộng. Cùng một xã, ruộng cao và ruộng trũng có thể cần giống khác nhau. Bảng dưới tóm các đặc điểm nên ưu tiên:
| Chân ruộng | Rủi ro chính | Đặc điểm giống nên ưu tiên |
|---|---|---|
| Ruộng cao, chờ mưa, cuối kênh | Thiếu nước, hạn giữa vụ | Ngắn ngày, chịu hạn khá, bộ rễ khoẻ |
| Ruộng trũng, đọng nước | Ngập, đổ ngã, lúa vươn lóng | Cứng cây, chống đổ, có khả năng chịu ngập ngắn ngày |
| Ruộng phèn | Ngộ độc sắt, nhôm, chết rễ | Chịu phèn, đẻ nhánh khoẻ trên đất chua |
| Ruộng ven biển, nhiễm mặn | Mặn đầu và cuối mùa khô | Chịu mặn ở giai đoạn mạ và trổ, ngắn ngày để né mặn |
| Ruộng bậc thang miền núi | Lạnh, nước hạn chế, một vụ | Giống chịu lạnh, thường là giống địa phương đã thích nghi |
| Ruộng chủ động nước, thâm canh | Sâu bệnh tích luỹ, đổ ngã do bón nhiều | Kháng hoặc chống chịu bệnh chính của vùng, cứng cây |
"Chịu" hay "chống chịu" không có nghĩa là miễn nhiễm. Giống chịu mặn vẫn chết nếu mặn vượt ngưỡng hoặc kéo dài vào lúc trổ; giống chịu phèn vẫn cần làm đất và quản lý nước đúng. Giống chỉ nâng được khoảng an toàn, không thay được canh tác.
Với ruộng có nhiều chân đất trong cùng một mảnh, như đầu bờ cao cuối bờ trũng, ưu tiên giống chịu được chân ruộng xấu nhất, hoặc chia khu gieo hai giống nếu quản lý được.
Tiêu chí ba đến năm: sâu bệnh, cứng cây và đầu ra
Biết vùng mình hay bị bệnh gì trước khi xem giống kháng gì. Mỗi vùng có vài loại sâu bệnh chính trên lúa, ví dụ có nơi hay bị rầy và bệnh virus do rầy truyền, có nơi hay bị đạo ôn, có nơi hay bị bạc lá sau bão. Hỏi trạm khuyến nông hoặc bảo vệ thực vật địa phương về các dịch hại chính vài vụ gần đây, rồi mới đối chiếu với đánh giá của giống. Giống kháng tốt một bệnh nhưng nhiễm nặng bệnh chính của vùng thì không hợp.
Khả năng kháng có thể giảm sau vài năm. Rầy và nấm bệnh thay đổi theo thời gian. Một giống từng được xem là kháng rầy có thể nhiễm dần sau nhiều vụ trồng liên tục trên diện rộng. Đó là lý do nhiều địa phương khuyến cáo luân phiên giống, không trồng một giống quá lâu trên cả cánh đồng.
Cứng cây là tiêu chí bị xem nhẹ nhưng mất mùa vì đổ ngã rất hay gặp. Lúa đổ khi đang vào chắc hoặc sắp gặt làm hạt nảy mầm trên bông, khó gặt máy, hao hụt nhiều. Ở ruộng trũng, vùng hay có giông cuối vụ, giống thấp cây, thân cứng nên đặt lên trước.
Chất lượng gạo phải khớp với người mua. Có thương lái, doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ thu mua một số nhóm giống, nhất là vùng làm gạo xuất khẩu hoặc gạo thơm. Ở vùng nông hộ ăn là chính, độ dẻo, mùi thơm hợp khẩu vị gia đình lại quan trọng hơn. Hỏi trước người mua hoặc hợp tác xã trước khi chọn giống; phần bao tiêu, liên kết thuộc chuyện kinh tế hộ, ở đây chỉ nhắc như một tiêu chí.
Đặc tính chịu thâm canh hay chịu đất xấu. Có giống cho năng suất cao khi bón đầy đủ, nước chủ động, nhưng giảm mạnh khi điều kiện kém. Có giống năng suất vừa phải nhưng ổn định trên đất nghèo. Ruộng nhà mình thuộc loại nào thì chọn giống theo hướng đó.
Tiêu chí sáu: hạt giống phải có nguồn gốc và cấp giống rõ ràng
Hạt giống lúa được chia cấp: siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận. Nông hộ sản xuất lúa thương phẩm thường dùng cấp xác nhận, một số nơi dùng nguyên chủng để làm ruộng giống. Theo Luật Trồng trọt năm 2018, giống cây trồng chính như lúa phải được công nhận lưu hành hoặc tự công bố lưu hành theo quy định trước khi đưa ra sản xuất, kinh doanh. Bao bì hạt giống phải có nhãn ghi tên giống, cấp giống, tổ chức chịu trách nhiệm, hạn sử dụng và các chỉ tiêu chất lượng. Quy định chi tiết có thể thay đổi; bà con nên hỏi cơ quan nông nghiệp địa phương về văn bản hiện hành.
Hạt giống đạt chuẩn có tỷ lệ nảy mầm, độ sạch và độ thuần cao. Độ thuần quan trọng hơn bà con nghĩ: hạt giống lẫn nhiều cây khác dạng hoặc lẫn hạt lúa cỏ thì ruộng trổ không đều, chín không đều, và lúa cỏ tích luỹ dần qua từng vụ. Nhiều ruộng ở Nam Bộ bị lúa cỏ nặng bắt nguồn từ việc dùng giống tự để hoặc mua giống trôi nổi.
Tự để giống từ ruộng nhà không bị cấm, nhưng nếu làm thì phải chọn ruộng sạch cỏ, khử lẫn kỹ trong vụ (nhổ bỏ cây khác dạng, cây trổ sớm muộn bất thường), gặt riêng, phơi và bảo quản riêng. Với giống lúa lai thì không để giống được, vì thế hệ sau phân ly, ruộng không đồng đều.
Một dấu hiệu nên nghi ngờ: giống được rao với năng suất rất cao, giá rẻ bất thường, không có nhãn đầy đủ hoặc không rõ tổ chức chịu trách nhiệm. Mua giống ở nơi có hoá đơn, giữ lại bao bì và một ít hạt mẫu cho tới khi gặt xong để có căn cứ khi có sự cố.
Tiêu chí bảy: thử giống mới trên diện nhỏ trước khi trồng cả ruộng
Giống mới được giới thiệu, dù có khảo nghiệm tốt ở nơi khác, vẫn có thể phản ứng khác trên chân ruộng nhà mình. Cách thử đơn giản, ít rủi ro:
- Chọn một thửa nhỏ đại diện cho chân ruộng chính của gia đình, không chọn thửa tốt nhất cũng không chọn thửa xấu nhất.
- Trồng cạnh giống quen đang dùng, cùng ngày gieo, cùng cách chăm, để có cái so sánh thật.
- Ghi lại vài mốc: ngày gieo, ngày trổ, ngày gặt; cây có đổ không; sâu bệnh gì xuất hiện, mức nào; bông dài ngắn, hạt chắc hay lép.
- Khi gặt, gặt riêng hai thửa, cân hoặc ước lượng thóc khô, hỏi người mua về giá trị hạt.
- Thử ít nhất hai vụ trước khi chuyển hẳn, vì một vụ thời tiết thuận có thể làm giống mới trông tốt hơn thực tế.
- Trao đổi với các hộ khác trong cánh đồng: nếu cả cánh đồng cùng chuyển giống, xuống giống đồng loạt, thì việc quản lý nước, rầy và ốc cũng dễ hơn.
Nhiều hợp tác xã và trạm khuyến nông có ruộng trình diễn giống mỗi vụ. Đi xem ruộng trình diễn vào lúc lúa trổ và lúc sắp gặt là cách nhanh để thấy giống ngoài đời, trước khi nghe giới thiệu ở cửa hàng.
Những ngộ nhận hay gặp khi chọn giống
"Giống năng suất cao nhất là giống tốt nhất." Năng suất công bố là trong điều kiện khảo nghiệm, chăm sóc đầy đủ. Trên ruộng thật, giống cho lợi nhất thường là giống ổn định qua cả vụ thuận lẫn vụ nghịch, ít tốn thuốc, ít đổ.
"Hàng xóm trồng tốt thì mình trồng cũng tốt." Đúng nếu chân ruộng, nước và cách chăm giống nhau. Ruộng hàng xóm cao ráo, ruộng mình trũng phèn thì kết quả có thể khác hẳn.
"Giống kháng bệnh thì không cần thăm đồng." Giống kháng giúp giảm áp lực, nhưng không thay được việc theo dõi ruộng định kỳ và quản lý dịch hại tổng hợp. Khi dịch hại đổi chủng, giống kháng có thể nhiễm.
"Đổi giống liên tục cho chắc." Đổi quá nhiều giống trong một cánh đồng làm lệch thời gian trổ, chín, khó quản lý nước và sâu bệnh chung. Nên ổn định một số ít giống hợp vùng và luân phiên có kế hoạch.
"Giống mới ra luôn tốt hơn giống cũ." Giống mới có thể cải thiện một vài đặc tính, nhưng chưa có thời gian kiểm chứng trên chân ruộng nhà mình. Một giống quen đã trồng ổn định nhiều vụ, nông hộ đã biết rõ lúc nào nó đẻ nhánh, lúc nào làm đòng, chịu phân tới đâu, là một lợi thế không nhỏ. Chuyển giống nên có lý do cụ thể, như giống cũ bắt đầu nhiễm bệnh nặng hay người mua không còn thu.
Cuối cùng, giống là khâu đầu vào chỉ chiếm một phần nhỏ chi phí nhưng ảnh hưởng tới cả vụ. Bỏ thêm vài buổi hỏi han, đi xem ruộng trình diễn, đọc kỹ nhãn bao là khoản đầu tư rẻ nhất của một vụ lúa.
Câu hỏi thường gặp
Giống lúa ngắn ngày có năng suất thấp hơn giống dài ngày không?
Không nhất thiết. Nhiều giống ngắn ngày hiện nay cho năng suất tương đương nhờ cải tiến di truyền. Giống dài ngày có thời gian tích luỹ dài hơn nhưng cũng chịu rủi ro thời tiết lâu hơn. Chọn theo khung thời vụ an toàn của vùng quan trọng hơn so ngắn với dài.
Hạt giống cấp xác nhận và nguyên chủng khác nhau thế nào?
Nguyên chủng là cấp cao hơn, được nhân từ siêu nguyên chủng với yêu cầu độ thuần cao, thường dùng để sản xuất ra hạt giống xác nhận. Xác nhận là cấp dùng cho sản xuất lúa thương phẩm. Với nông hộ trồng lúa bán, cấp xác nhận đạt chuẩn là đủ.
Có nên tự để giống lúa từ ruộng nhà không?
Có thể, nếu ruộng sạch lúa cỏ, được khử lẫn kỹ trong vụ và gặt, phơi, bảo quản riêng. Nên thay giống mua mới sau vài vụ để giữ độ thuần. Giống lúa lai thì không để giống được vì thế hệ sau không đồng đều.
Làm sao biết giống lúa có được phép lưu hành hay không?
Xem nhãn bao bì có ghi đầy đủ tên giống, tổ chức chịu trách nhiệm và thông tin lưu hành, rồi hỏi cán bộ nông nghiệp địa phương hoặc tra cứu thông tin công bố của cơ quan quản lý giống cây trồng. Không mua giống không nhãn, không rõ nguồn gốc.
Vùng nhiễm mặn có giống lúa nào chịu được mặn hoàn toàn không?
Không có giống chịu mặn hoàn toàn. Giống chịu mặn chỉ chịu được ở mức nhất định và thường nhạy hơn ở giai đoạn mạ và giai đoạn trổ. Ở vùng mặn, kết hợp giống chịu mặn ngắn ngày với lịch xuống giống né mặn và quản lý nước mới giữ được vụ.
Một cánh đồng nên trồng mấy giống lúa?
Nên ít, thường một tới vài giống có thời gian sinh trưởng gần nhau để trổ và chín đồng loạt. Như vậy dễ quản lý nước, dễ phối hợp phòng rầy, ốc và thuê máy gặt. Giống mới nên thử ở diện tích nhỏ trước khi đưa vào cả cánh đồng.