Cây ngô trải qua ba khúc chính: giai đoạn cây con và xoáy nõn (ra lá), giai đoạn trổ cờ – phun râu (thụ phấn), và giai đoạn hạt vào chắc tới chín sinh lý; trong đó khoảng hai tuần trước và sau trổ cờ là quãng quyết định số hạt trên bắp, thiếu nước hay thiếu dinh dưỡng lúc này là bắp lép đầu, không bù lại được. Chăm ngô đúng nghĩa là chuẩn bị cho cây bước vào quãng đó thật khoẻ.
Ngô là cây màu lương thực trồng ở hầu hết các vùng: ngô vụ đông trên đất hai lúa đồng bằng sông Hồng, ngô nương trên đất dốc miền núi phía Bắc, ngô trên đất đỏ Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ngô luân canh trên ruộng lúa miền Tây. Bài này đi theo từng giai đoạn của cây, kèm những điểm khác theo vùng và một dịch hại mới mà nhà trồng ngô cả nước phải biết từ năm 2019: sâu keo mùa thu.
Cây ngô "đếm lá": cách hiểu các giai đoạn
Người làm ngô thường gọi giai đoạn theo số lá: ngô ba lá, năm lá, bảy chín lá, rồi xoáy nõn, trổ cờ. Cách đếm này có ý nghĩa sinh học. Ở giai đoạn ba đến năm lá, đỉnh sinh trưởng còn nằm dưới hoặc sát mặt đất; cây bị sâu cắn lá vẫn hồi lại được, nhưng ngập úng thì đỉnh sinh trưởng chết. Khoảng bảy đến chín lá, cây bắt đầu phân hoá bông cờ và bắp; tiềm năng số hàng hạt trên bắp được định ra trong quãng này.
Từ đó tới xoáy nõn là giai đoạn cây vươn cao nhanh nhất, nhu cầu dinh dưỡng và nước tăng vọt. Rồi bông cờ nhú ra khỏi nõn (trổ cờ), râu ngô thò ra khỏi bẹ bắp (phun râu). Mỗi sợi râu nối với một noãn; sợi râu nào nhận được hạt phấn thì noãn đó thành hạt. Bắp lép đầu chính là những noãn ở đầu bắp, phun râu muộn nhất, không kịp nhận phấn hoặc không đủ dinh dưỡng nuôi.
Sau thụ phấn, hạt trải qua các pha ngậm nước, chín sữa, chín sáp, rồi tới chín sinh lý khi chân hạt xuất hiện lớp đen. Ngô nếp, ngô ngọt ăn tươi được bẻ ở giai đoạn chín sữa – chín sáp; ngô hạt để khô thì đợi chín sinh lý.
Gieo hạt và giai đoạn cây con
Làm đất kỹ, thoát nước tốt. Ngô sợ úng ở giai đoạn đầu. Đất lúa phải có rãnh, luống; đất bãi ven sông tránh gieo khi nước còn có thể lên.
Gieo đúng độ sâu, đủ ẩm. Hạt gieo nông dễ bị chim, chuột, kiến ăn và khô; gieo sâu quá thì mầm yếu, mọc chậm. Đất phải đủ ẩm khi gieo để mọc đều.
Mật độ theo giống. Giống lá đứng chịu được mật độ dày hơn giống lá xoè. Trồng dày quá, cây tranh sáng, bắp nhỏ, nhiều cây không bắp; thưa quá thì phí đất. Khuyến cáo mật độ có trên bao bì giống và từ khuyến nông địa phương.
Dặm, tỉa sớm. Đồng ruộng mọc không đều thì cây mọc muộn sẽ bị cây bên che, thành cây "ăn ké" không cho bắp. Dặm trong vài ngày đầu, tỉa để một cây mỗi hốc nếu gieo hai hạt.
Làm cỏ, vun gốc. Vun gốc khi cây vài lá và trước xoáy nõn giúp rễ chân kiềng bám chắc, chống đổ ngã khi gió.
Nước và dinh dưỡng quanh trổ cờ: không được để cây đói
Ngô là cây C4, quang hợp hiệu quả và lớn nhanh, nhưng cũng vì thế mà nhu cầu nước, đạm và kali tập trung rất mạnh trong khoảng từ xoáy nõn tới sau phun râu. Các tài liệu nông học thống nhất rằng đây là thời kỳ khủng hoảng nước của cây ngô: một đợt hạn ngắn đúng lúc phun râu làm râu khô, phấn chết, gây thiệt hại nặng hơn nhiều so với cùng đợt hạn ấy ở giai đoạn cây con.
Với ruộng có nước, nên tưới để đất đủ ẩm trước khi trổ cờ và giữ ẩm cho tới khi râu chuyển màu nâu. Tưới rãnh cho thấm rồi tháo, không để đọng. Với ngô nhờ nước trời, lịch gieo được chọn sao cho thời kỳ trổ cờ rơi vào lúc mưa ổn định, không trùng đợt hạn quen thuộc của vùng.
Về dinh dưỡng, phần lớn đạm nên được cây nhận trước xoáy nõn; bón muộn sau khi đã trổ cờ hiệu quả kém. Thiếu đạm thấy lá già vàng từ chóp theo hình chữ V dọc gân giữa; thiếu kali thấy mép lá già khô cháy. Các mốc chia lần bón và lượng phân cụ thể theo khuyến cáo vùng, nhưng nguyên tắc là cây phải đủ ăn trước khi bước vào giai đoạn quyết định.
Ngô vụ đông đồng bằng sông Hồng và kỹ thuật ngô bầu
Ngô đông là cây chủ lực của vụ đông trên đất hai lúa ở đồng bằng sông Hồng, gồm các tỉnh, thành như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh sau sắp xếp năm 2025. Thời gian giữa gặt lúa mùa và cấy lúa xuân ngắn, nên phải gieo sớm, thường cuối tháng 9 đến đầu tháng 10, để ngô kịp trổ cờ trước khi rét đậm. Gieo muộn, ngô trổ vào lúc rét thì thụ phấn kém, bắp lép.
Để rút ngắn thời gian trên ruộng, nhiều nơi làm ngô bầu: gieo hạt vào bầu đất trộn phân, ươm ngoài bờ hoặc sân khi lúa mùa chưa gặt; gặt xong mang bầu ra đặt trên ruộng ướt, chỉ cần rạch hàng, không phải cày bừa kỹ. Kỹ thuật làm đất tối thiểu trên đất ướt này đã được phổ biến ở đồng bằng sông Hồng từ nhiều năm. Cây con cần được đặt khi bầu còn chắc, rễ chưa đâm ra ngoài bầu quá nhiều.
Vụ đông khô, hanh; nhưng ruộng lúa vẫn có thể úng nếu mưa cuối thu lớn. Vì thế rãnh thoát nước phải được giữ thông suốt cả vụ, và tưới bổ sung vào lúc trổ cờ khi trời hanh khô.
Ngô trên đất dốc miền núi: giữ đất trước khi giữ năng suất
Ở miền núi phía Bắc, ngô nương là cây lương thực và thức ăn chăn nuôi quan trọng của nhiều hộ. Nhưng ngô gieo trên sườn dốc, làm đất trần mỗi đầu mùa mưa, là một trong những nguyên nhân gây xói mòn mạnh: những trận mưa đầu mùa cuốn lớp đất mặt khi cây còn nhỏ. Sau nhiều năm, đất bạc màu, đá lộ, ngô ngày càng kém.
Những cách làm được khuyến khích: không đốt nương, gieo theo hàng ngang dốc (theo đường đồng mức), để lại tàn dư cây vụ trước làm lớp phủ, trồng băng cỏ hoặc cây phân xanh xen theo đường đồng mức để chặn đất, xen cây họ đậu giữa các hàng ngô. Kỹ thuật làm đất tối thiểu, gieo vào hốc trên lớp phủ cũng đã được thử ở nhiều nơi miền núi.
Ngô nương còn gắn với chăn nuôi của hộ: hạt ngô nuôi lợn, gà; thân lá cho trâu bò ăn qua mùa khô. Một nương ngô được giữ đất tốt, xen cây họ đậu, có phân chuồng hoai bón lại là vòng khép kín nhỏ trong nông hộ miền núi. Ngược lại, nương ngô làm trắng mỗi năm, không trả lại gì cho đất, thì sau vài vụ phải bỏ đi khai nương mới, vừa tốn công vừa hại rừng.
Giống ngô nếp nương địa phương có giá trị riêng về chất lượng ăn và thích nghi; nếu muốn giữ giống, cần trồng cách ly với ngô lai vì ngô thụ phấn chéo rất mạnh, phấn bay theo gió làm lai tạp chỉ sau vài vụ.
Sâu keo mùa thu: dịch hại cần nhận mặt ngay từ lá nõn
Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là loài sâu gốc châu Mỹ, lan sang châu Phi rồi châu Á, được ghi nhận gây hại ngô ở nước ta từ năm 2019 và nhanh chóng xuất hiện ở hầu khắp các vùng trồng ngô. Sâu non chui vào nõn ăn lá non, để lại những vết thủng và phân sâu như mùn cưa trong nõn; sâu lớn có thể đục vào bắp.
Nhận diện sớm: thăm đồng ở giai đoạn cây con và trước xoáy nõn, nhìn vào lá nõn tìm lỗ thủng, vết cạo trên mặt lá và phân sâu. Sâu non tuổi lớn có dấu hình chữ Y ngược màu sáng trên đầu và bốn chấm đen xếp hình vuông ở đốt bụng gần cuối. Ngô ở giai đoạn cây con chịu được một mức hại lá nhất định mà không giảm năng suất đáng kể; quyết định có xử lý hay không nên dựa vào tỷ lệ cây bị hại và hướng dẫn của cơ quan bảo vệ thực vật địa phương.
Một điểm hay bị hiểu nhầm là sâu keo mùa thu giống các loài sâu khoang, sâu xanh quen thuộc nên cứ xử lý như cũ. Thực tế loài này đẻ trứng thành ổ trên lá, sâu non tuổi nhỏ ẩn sâu trong nõn, ban ngày ít lộ ra; phun lên tán theo thói quen thường không trúng sâu. Thăm đồng vào sáng sớm, nhìn kỹ nõn và mặt dưới lá, sẽ thấy rõ hơn nhiều.
Trong quản lý tổng hợp: gieo tập trung theo vùng để không có lứa ngô non nối tiếp nuôi sâu, giữ thiên địch như ong ký sinh, bọ đuôi kìm, dùng chế phẩm sinh học khi có hướng dẫn. Nếu dùng thuốc, chọn loại có đăng ký cho sâu keo mùa thu trên ngô, phun vào nõn khi sâu còn nhỏ, đọc nhãn và hỏi cán bộ chuyên môn.
Đọc bắp ngô sau thu hoạch để rút kinh nghiệm
Bắp ngô ghi lại khá rõ những gì cây đã trải qua. Bóc vài bắp ở các góc ruộng và so với bảng dưới:
| Hiện tượng trên bắp | Thường do | Giai đoạn liên quan |
|---|---|---|
| Lép đầu bắp | Hạn, nóng hoặc thiếu dinh dưỡng lúc phun râu; mật độ quá dày | Trổ cờ – phun râu |
| Hạt thưa, mất hạt rải rác | Thụ phấn kém: mưa lớn, nóng khô lúc tung phấn, râu bị sâu ăn | Phun râu |
| Bắp ngắn, ít hàng hạt | Cây bị stress khi phân hoá bắp | Khoảng 7–12 lá |
| Hạt nhỏ, nhăn, nhẹ | Thiếu nước, bệnh lá, đổ ngã khi hạt vào chắc | Chín sữa – chín sáp |
| Mốc hạt, thối bắp | Mưa khi chín, sâu đục bắp, để quá lâu ngoài đồng | Chín – thu hoạch |
Ghi lại những gì quan sát được vào sổ đồng ruộng cùng thời điểm gieo, thời tiết, lượng phân. Sau vài vụ, sổ này cho bà con biết chân ruộng của mình hợp thời vụ nào, mật độ nào, hơn mọi lời khuyên chung.
Nếu nhiều vụ liền thấy cùng một hiện tượng, chẳng hạn lép đầu ở mọi góc ruộng, nguyên nhân thường nằm ở thời vụ hoặc giống không hợp, chứ không phải ở một lần bón hay một đợt sâu. Khi đó nên mang bắp mẫu và sổ ghi chép tới hỏi cán bộ khuyến nông để chọn lại thời vụ, giống cho chân ruộng của mình.
Câu hỏi thường gặp
Ngô trồng bao lâu thì thu hoạch?
Tuỳ giống và vụ. Ngô ăn tươi như ngô nếp, ngô ngọt thường được bẻ sau gieo khoảng hai tháng rưỡi đến hơn ba tháng; ngô hạt khô dài hơn, có giống ngắn ngày và dài ngày. Vụ lạnh kéo dài hơn vụ nóng. Xem thời gian sinh trưởng ghi trên bao bì giống của vùng mình.
Vì sao ngô có cây không có bắp?
Thường do mật độ quá dày, cây mọc muộn bị che, thiếu dinh dưỡng hoặc hạn nặng ở giai đoạn phân hoá bắp, hoặc cây trổ cờ quá sớm so với phun râu nên không nhận được phấn. Giống không hợp vùng cũng hay có tỷ lệ cây không bắp cao.
Có nên rút cờ ngô không?
Rút cờ một phần, cách hàng, sau khi đã tung phấn đủ có thể có lợi ở một số điều kiện vì cây đỡ tốn dinh dưỡng nuôi cờ, nhưng rút sớm khi phấn chưa đủ sẽ làm thụ phấn kém. Ruộng nhỏ, cây ít thì không nên rút. Hỏi khuyến nông trước khi áp dụng diện rộng.
Thân lá ngô sau thu hoạch dùng làm gì?
Thân lá ngô là nguồn thức ăn thô cho trâu bò khi ủ chua hoặc phơi khô, làm lớp phủ đất, nguyên liệu ủ phân. Ngô sinh khối được trồng riêng để thu cả cây ủ chua cho bò. Không nên đốt thân lá ngoài đồng vì mất chất hữu cơ và gây khói bụi.
Vì sao ngô đổ ngã trước khi thu?
Do gió bão khi cây cao, rễ chân kiềng yếu vì không vun gốc, mật độ dày làm thân mảnh, bón thừa đạm, sâu đục thân hoặc bệnh thối thân. Chọn giống cứng cây cho vùng nhiều gió, vun gốc kỹ và bón cân đối kali sẽ giảm đổ ngã.
Ngô trồng trên đất lúa cần lưu ý gì?
Đất lúa thường chặt, dễ úng; cần làm luống, rãnh thoát nước, gieo khi đất đủ ẩm nhưng không nhão. Ở đồng bằng sông Hồng, gieo đúng thời vụ để ngô kịp trổ trước rét. Sau vụ ngô, trả lại ruộng sớm cho lúa đúng lịch của địa phương.