Làm đất cho lúa gồm bốn việc nối nhau: xử lý rơm rạ và gốc rạ vụ trước (vùi hoặc gom, không đốt), cày hoặc xới cho đất tơi, cho nước vào ngâm rồi bừa, trục cho nhuyễn bùn, và cuối cùng san phẳng mặt ruộng sao cho khi cho một lớp nước mỏng vào thì nước phủ đều cả thửa, không chỗ nhô lên khô, không chỗ trũng đọng sâu. Đắp lại bờ và đánh rãnh thoát nước là bước khép lại trước khi gieo sạ hoặc cấy.
Nhiều vấn đề giữa vụ, như lúa mọc không đều, cỏ mọc thành vạt ở chỗ cao, ốc bươu vàng phá ở chỗ trũng, phân bón dồn một chỗ, thật ra bắt nguồn từ khâu làm đất. Bài này đi theo trình tự công việc và chỉ ra những điểm khác nhau giữa ruộng đồng bằng sông Hồng, ruộng Nam Bộ và ruộng phèn.
Vì sao mặt ruộng phẳng quyết định nhiều thứ trong vụ
Trên ruộng lúa, nước là công cụ chính: để ép cỏ, giữ ẩm, giữ ấm, và để làm khô khi cần. Công cụ đó chỉ dùng được khi mặt ruộng phẳng. Nếu một thửa chênh nhau vài phân giữa đầu này và đầu kia, khi cho nước nông vào thì chỗ cao vẫn khô, cỏ mọc lên ngay; chỗ trũng ngập sâu, hạt sạ thối, mạ ngập ngọn, ốc tụ lại ăn. Khi phơi ruộng, chỗ cao nứt nẻ trong khi chỗ trũng vẫn đọng bùn.
Mặt ruộng không phẳng còn làm phân bón, thuốc cỏ phân bố lệch: nước chảy về chỗ trũng mang theo phân tan, chỗ cao thiếu, chỗ trũng thừa, lúa chỗ thừa phân dễ đổ, dễ bệnh. Lúa mọc không đều thì chín không đều, gặt sớm thì chỗ xanh, gặt muộn thì chỗ rụng.
Ngược lại, ruộng phẳng cho phép giữ nước nông và đều, nhờ đó tiết kiệm nước bơm, dễ áp dụng tưới ướt khô xen kẽ, giảm công làm cỏ và giảm thuốc. Đây là lý do san phẳng mặt ruộng, kể cả bằng thiết bị laser ở những nơi có dịch vụ, được xem là một khâu nền của canh tác lúa giảm phát thải đang được khuyến khích ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Xử lý rơm rạ và gốc rạ trước khi làm đất
Sau gặt, ruộng còn rơm và gốc rạ. Đốt rơm là cách nhanh nhưng bị khuyến cáo bỏ vì gây khói bụi, đốt mất chất hữu cơ và vi sinh vật có ích trong lớp đất mặt, và ở nhiều nơi đã bị cấm hoặc hạn chế. Có ba hướng xử lý thay thế: gom rơm ra khỏi ruộng để dùng việc khác như làm thức ăn cho trâu bò, trồng nấm rơm, che phủ vườn; vùi rơm và gốc rạ vào đất khi làm đất; hoặc xử lý rơm bằng chế phẩm vi sinh tại ruộng rồi mới vùi.
Nếu vùi rơm, cần có thời gian chờ để rơm phân huỷ trước khi gieo. Vùi rơm tươi rồi gieo ngay, rơm phân huỷ trong điều kiện ngập nước sẽ sinh khí độc gây nghẹt rễ lúa non. Khoảng chờ thường được khuyến cáo là vài tuần, tuỳ lượng rơm, nhiệt độ và có dùng chế phẩm hay không; vụ nối vụ sát nhau ở Nam Bộ thì càng nên gom bớt rơm ra khỏi ruộng. Kỹ thuật ủ rơm, dùng chế phẩm thuộc mảng vật tư phân bón hữu cơ; ở đây chỉ cần nhớ: không gieo trên ruộng vừa vùi rơm tươi.
Ở đồng bằng sông Hồng, sau vụ mùa nhiều nơi trồng vụ đông trên đất lúa như ngô, khoai tây, rau. Khi đó rơm rạ thường được dùng luôn để che phủ luống cây vụ đông, và đến vụ xuân phần còn lại mục dần trong đất. Ở những nơi bỏ hoá qua đông, cày lật gốc rạ sớm và để đất nghỉ là cách quen thuộc. Ở Nam Bộ, vụ nối vụ, thời gian nghỉ giữa hai vụ có khi chỉ vài tuần, nên quyết định gom hay vùi rơm phải tính ngay từ lúc gặt: thuê máy cuộn rơm theo sau máy gặt là cách nhiều hộ đang dùng để ruộng sạch nhanh mà rơm vẫn có giá trị cho trồng nấm hoặc nuôi bò.
Gốc rạ còn là nơi trú của sâu đục thân, rầy và một số mầm bệnh. Cày vùi gốc rạ sớm sau gặt, để ruộng khô hoặc cho nước ngập một thời gian tuỳ vùng, giúp cắt nguồn sâu bệnh chuyển vụ. Lúa chét, tức lúa mọc lại từ gốc rạ, nếu để lâu cũng là cầu nối cho rầy và bệnh virus, nên vùi sớm.
Trình tự làm đất ở các vùng
Trình tự cơ bản giống nhau, nhưng thời gian và cách làm khác nhau theo vùng và theo vụ. Bảng dưới để hình dung, không thay cho hướng dẫn của địa phương:
| Bước | Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ | Đồng bằng sông Cửu Long | Ruộng phèn |
|---|---|---|---|
| Sau gặt | Cày lật gốc rạ, có nơi làm vụ đông trên đất lúa | Vụ nối vụ, thời gian nghỉ ngắn; xới vùi hoặc gom rơm | Hạn chế để đất khô sâu, nứt nẻ |
| Cày, xới | Cày sâu vừa phải, có nơi cày ải phơi đất trước vụ | Xới hoặc trục trực tiếp khi đất mềm | Cày nông, không lật tầng phèn lên mặt |
| Ngâm, bừa | Ngâm nước rồi bừa nhiều lượt cho nhuyễn | Trục bùn, đánh nhuyễn lớp mặt | Ngâm, bừa rồi thay nước để rửa bớt phèn |
| San phẳng | Bừa trang hoặc kéo bàn san | Trục san, có nơi san laser | San phẳng kỹ để giữ nước đều |
| Trước gieo | Đắp bờ, khơi mương | Đánh rãnh thoát, để lắng bùn | Rửa phèn, giữ ẩm, gieo khi nước bớt chua |
Với ruộng phèn, nguyên tắc chung là không để tầng đất chứa phèn tiềm tàng bị phơi khô, ô xy hoá. Cày sâu lật tầng này lên hay phơi ải lâu có thể làm phèn "bùng", nước ruộng chua, lúa non vàng chết. Phần nhận biết phèn tiềm tàng, phèn hoạt động và cải tạo đất phèn có ở mảng đất trồng; ở đây là cách làm đất cho lúa trên nền đó.
Tự kiểm độ phẳng bằng nước và sửa chỗ lồi lõm
Không cần thiết bị đắt tiền để biết ruộng phẳng hay chưa. Nước là cái thước tốt nhất:
- Sau lượt trục cuối, cho nước vào thật nông, vừa láng mặt ruộng, rồi đứng ở bờ quan sát vào lúc trời lặng gió.
- Đánh dấu chỗ nhô: những khoảnh đất ló lên khỏi mặt nước. Cắm que hoặc cành lá để nhớ vị trí.
- Đánh dấu chỗ trũng: những khoảnh nước sâu hơn hẳn, thường gần cửa nước, góc ruộng hoặc chỗ máy quay đầu.
- Kéo bùn từ chỗ nhô sang chỗ trũng bằng bàn trang, cào, hoặc cho máy trục chạy thêm theo hướng đó. Không đào đất từ chỗ khác đắp vào vì sẽ tạo chỗ trũng mới.
- Cho nước vào kiểm lại sau khi bùn lắng. Lặp lại tới khi nước phủ đều, chênh lệch không đáng kể.
- Rút nước, đánh rãnh quanh bờ và vài rãnh trong ruộng để thoát nước mưa sau khi sạ.
Thửa ruộng lớn, chênh lệch nhiều có thể thuê dịch vụ san phẳng bằng laser nếu địa phương có. Thiết bị này dùng tia laser làm mặt chuẩn và điều khiển lưỡi san tự động, cho độ phẳng đều hơn hẳn so với làm thủ công, và hiệu quả kéo dài nhiều vụ nếu sau đó làm đất cẩn thận.
Chỗ máy quay đầu ở các góc ruộng thường bị trũng dần qua nhiều vụ. Mỗi lần làm đất nên chú ý bù lại các góc này.
Bờ ruộng, mương và lớp đế cày: những phần hay bị bỏ quên
Bờ ruộng giữ nước, giữ phân và chặn ốc. Bờ bị chuột đào, cua khoét, nước rò rỉ thì không giữ được lớp nước nông, phân tan theo nước chảy sang ruộng bên. Mỗi vụ nên đắp lại bờ, lấp hang, trát mặt bờ phía trong. Bờ đủ cao để giữ nước khi mưa lớn mà không tràn.
Mương nội đồng phải thông trước khi cần. Mương cạn, cỏ mọc, bùn bồi thì khi mưa to nước không thoát kịp, khi khô hạn lại không dẫn nước vào được. Khơi mương là việc chung của cả cánh đồng, thường làm vào lúc ruộng nghỉ giữa hai vụ.
Lớp đế cày giữ nước cho ruộng lúa. Dưới lớp đất mặt ruộng lúa lâu năm thường có một lớp đất chặt gọi là đế cày, giúp nước không thấm mất xuống sâu. Cày quá sâu phá lớp này thì ruộng khó giữ nước. Ngược lại, khi chuyển ruộng lúa sang trồng màu, lớp đế cày lại là thứ làm cây màu úng rễ, phải xử lý riêng.
Cửa lấy nước và cửa thoát đặt đúng chỗ. Cửa lấy nước nên có lưới chắn ốc, rác; cửa thoát đặt ở chỗ thấp nhất của thửa. Nếu thửa dốc nhẹ về một phía, cửa thoát nằm ở phía thấp, rãnh chính chạy dọc hướng dốc.
Vệ sinh đồng ruộng cùng lúc với làm đất. Dọn cỏ bờ, cỏ mương, lúa chét và cây ký chủ của sâu bệnh quanh ruộng. Bờ ruộng có thể giữ lại một số cây hoa có ích cho thiên địch, như trong mô hình ruộng lúa bờ hoa; điều cần dọn là cỏ dại lấn vào ruộng và cây lúa mọc dại.
Làm đất bằng máy hay thuê dịch vụ: cần dặn gì
Hiện nay phần lớn ruộng lúa ở đồng bằng được làm đất bằng máy, chủ yếu qua dịch vụ thuê. Người chủ ruộng không cần tự lái máy, nhưng cần biết mình muốn gì để dặn người làm. Ba điều nên nói rõ: độ sâu cày hay xới (đặc biệt với ruộng phèn, không được làm sâu), số lượt trục và yêu cầu độ phẳng (nhất là các góc và chỗ quay đầu), và thời điểm làm so với lịch gieo (để có thời gian chờ nếu vùi rơm).
Nên có mặt ở ruộng khi máy làm lượt cuối. Chỉ cho người làm những chỗ còn lồi lõm thấy được khi có nước nông. Sửa ngay lúc máy còn ở ruộng dễ hơn rất nhiều so với sau này kéo bùn bằng tay.
Ở ruộng nhỏ, ruộng bậc thang hoặc ruộng không có đường cho máy lớn, máy xới tay hoặc trâu bò vẫn là công cụ chính. Nguyên tắc vẫn vậy: đất nhuyễn đều, mặt phẳng, bờ chắc. Chọn loại máy làm đất theo quy mô là chuyện thiết bị, có hướng dẫn riêng ở mảng máy móc nông nghiệp.
Một điều nữa là thời điểm làm đất so với độ ẩm. Đất quá khô mà cày, xới thì vỡ thành cục to, tốn nhiều lượt bừa mới nhuyễn; đất quá nhão thì máy sa lầy, bùn bị nén chặt, mặt ruộng gợn sóng sau bánh xe. Ở ruộng thịt nặng, đợi đất vừa ẩm, hoặc cho nước ngâm đủ ngày rồi mới bừa trục, sẽ tiết kiệm được nhiều công và cho mặt ruộng đẹp hơn.
Cuối cùng, ghi lại những thửa hay có chỗ trũng, chỗ cao cố định để mỗi vụ làm đất có chủ đích hơn. Ruộng được san kỹ một lần và giữ gìn qua nhiều vụ sẽ ngày càng dễ làm.
Câu hỏi thường gặp
Ruộng chênh lệch bao nhiêu thì cần san phẳng lại?
Không có con số cố định cho mọi ruộng, nhưng dấu hiệu dễ thấy là khi cho nước thật nông vào mà vẫn có chỗ ló đất khô trong khi chỗ khác ngập sâu. Nếu cỏ hay mọc thành vạt ở cùng một chỗ hoặc ốc phá tập trung ở chỗ trũng qua nhiều vụ, đó là lúc nên san lại kỹ.
Vùi rơm rồi bao lâu mới được sạ lúa?
Thường cần chờ vài tuần để rơm phân huỷ bớt, tuỳ lượng rơm, nhiệt độ và có dùng chế phẩm vi sinh hay không. Vụ nối vụ không đủ thời gian thì nên gom bớt rơm ra khỏi ruộng. Gieo ngay trên rơm tươi vừa vùi dễ làm lúa non bị nghẹt rễ, vàng lá.
Ruộng phèn có nên cày sâu để đất tơi hơn không?
Không nên. Cày sâu có thể lật tầng đất chứa phèn tiềm tàng lên mặt, khi gặp không khí sẽ sinh chua và chất độc cho lúa. Ruộng phèn nên làm nông, giữ ẩm, kết hợp ngâm và thay nước để rửa phèn trước khi gieo.
San phẳng bằng laser có đáng làm với ruộng nhỏ không?
San laser hiệu quả nhất với thửa ruộng tương đối lớn, có đường cho máy vào và chênh lệch đáng kể. Với ruộng nhỏ, có thể dồn nhiều thửa liền nhau để thuê một lần hoặc san thủ công kỹ bằng nước làm thước. Hỏi hợp tác xã hay khuyến nông địa phương xem có chương trình hỗ trợ không.
Có cần làm đất mỗi vụ không hay sạ thẳng trên gốc rạ được?
Một số nơi làm lúa giảm làm đất, gieo trên ruộng chỉ xới nhẹ, nhưng đòi hỏi quản lý cỏ, gốc rạ và nước rất tốt. Với phần lớn nông hộ, làm đất mỗi vụ vẫn cần để vùi gốc rạ, cắt nguồn sâu bệnh, làm phẳng lại mặt ruộng và hạn chế cỏ.
Đắp bờ ruộng thế nào để chuột không đào hang?
Không có cách nào chặn hoàn toàn, nhưng bờ được đắp chắc, nện kỹ, không để cỏ rậm và được kiểm tra thường xuyên thì chuột khó làm tổ. Phát hiện hang thì lấp ngay. Phòng chuột hiệu quả nhất khi cả cánh đồng cùng làm vào cùng thời điểm, theo hướng dẫn của địa phương.