Một vụ lúa có ba lần rút nước đáng nhớ nhất: ngay sau khi gieo sạ để mầm cắm rễ (giữ mặt ruộng ẩm, không đọng nước vài ngày đầu); phơi ruộng khi lúa đã đủ số dảnh ở cuối giai đoạn đẻ nhánh, thường rơi vào khoảng 30–40 ngày sau sạ hay cấy với giống ngắn ngày; và rút cạn trước gặt khoảng 7–10 ngày. Ngược lại, từ lúc lúa làm đòng tới khoảng một tuần sau trổ là lúc tuyệt đối không để ruộng khô.
Các mốc ngày trên chỉ là tham khảo, tuỳ giống, tuỳ đất, tuỳ vụ. Thước đo đúng là nhìn cây lúa và mặt ruộng. Phần dưới đi theo từng giai đoạn: lúc nào cần nước, lúc nào cần khô, nhìn dấu hiệu gì, và những chân ruộng nào phải làm khác đi, như ruộng phèn, ruộng trũng hay ruộng bậc thang.
Vì sao cây lúa không cần ngập nước suốt vụ
Cây lúa chịu được ngập là nhờ thân và rễ có các khoang dẫn khí, đưa oxy từ lá xuống rễ. Nhưng chịu được không có nghĩa là cần. Ruộng ngập sâu liên tục làm đất thiếu oxy, chất hữu cơ như rơm rạ vùi chưa hoai phân giải trong điều kiện yếm khí, sinh ra các chất gây hại rễ. Bà con miền Tây hay gọi là lúa bị "ngộ độc hữu cơ" hay "nghẹt rễ": rễ đen, có mùi trứng thối, lá vàng, lúa đứng yên không đẻ nhánh.
Nước có ba việc thật sự trên ruộng lúa. Thứ nhất là cung cấp nước cho cây, nhất là lúc làm đòng và trổ. Thứ hai là ức chế cỏ dại, vì phần lớn hạt cỏ không nảy mầm được dưới lớp nước. Thứ ba là giữ ấm cho lúa non khi trời rét ở miền Bắc. Ngoài ba việc đó, ngập thêm chỉ tốn công bơm và tạo môi trường cho ốc bươu vàng, cho một số bệnh phát triển.
Vì vậy các khuyến cáo quản lý nước hiện nay ở cả hai miền đều đi theo một tinh thần: nước nông, có lúc khô, và đúng thời điểm thì giữ nước chắc. Chương trình "1 phải 5 giảm" ở Đồng bằng sông Cửu Long đưa giảm lượng nước tưới vào một trong năm giảm, cũng từ lý do này.
Lịch nước theo giai đoạn của một vụ lúa
Bảng dưới là khung chung cho lúa sạ hoặc cấy giống ngắn và trung ngày. Độ sâu nước và số ngày là tham khảo; ruộng phèn, ruộng mặn và ruộng bậc thang có điều chỉnh riêng ở các phần sau:
| Giai đoạn | Mặt ruộng nên thế nào | Mục đích |
|---|---|---|
| Làm đất xong, trước gieo | Rút cạn, chừa rãnh thoát, mặt bùn phẳng | Hạt giống không bị chìm sâu, nước không đọng chỗ trũng |
| Sạ: vài ngày đầu | Ẩm, không đọng nước | Mầm cắm rễ, không thối hạt; hạn chế ốc bươu vàng |
| Cấy: tuần đầu | Nước nông, ngập gốc mạ một chút | Mạ bén rễ, không bị nắng làm héo |
| Lúa 2–3 lá đến đẻ nhánh rộ | Nước nông vài phân, có thể để khô xen kẽ | Kích thích đẻ nhánh, ức chế cỏ |
| Cuối đẻ nhánh, đủ số dảnh | Rút cạn, phơi tới khi nứt chân chim | Hạn chế nhánh vô hiệu, rễ ăn sâu, cứng cây |
| Làm đòng đến khoảng 1 tuần sau trổ | Giữ nước liên tục, không để khô | Nuôi đòng, hạt phấn, giảm lép |
| Chín sữa, chín sáp | Nước nông hoặc khô xen kẽ | Nuôi hạt, rễ khoẻ tới cuối |
| Trước gặt | Rút cạn khoảng 7–10 ngày | Chín đều, ruộng cứng cho người và máy gặt |
Điểm cần nhớ là hai cột mốc ngược nhau: phơi ruộng cuối đẻ nhánh là chủ động làm khô, còn giai đoạn làm đòng – trổ là chủ động giữ nước. Hai việc này cách nhau chỉ vài tuần, nên bà con hay nhầm hoặc phơi quá muộn, rơi vào lúc lúa đã bắt đầu làm đòng.
Muốn biết lúa đã làm đòng chưa, bóc một dảnh chính ở mấy khóm khác nhau, tách bẹ lá sát gốc: thấy đòng non như sợi lông trắng dài khoảng một hai milimét là lúa đã vào giai đoạn làm đòng, lúc này phải ngưng phơi và cho nước vào lại.
Rút nước sau khi gieo sạ: giữ ẩm chứ không giữ nước
Với lúa sạ, những ngày đầu là lúc hạt nảy mầm và rễ mầm phải bám được vào bùn. Nếu nước đọng trên mặt ruộng, hạt nằm dưới nước thiếu oxy, mầm dài ra nhưng rễ yếu, gặp mưa to hạt dồn về chỗ trũng, chỗ dày chỗ trống. Ốc bươu vàng cũng chỉ ăn được mầm lúa khi có nước để bò tới. Vì vậy sau khi sạ, mặt ruộng nên ẩm, đi chân xuống thấy lún nhẹ nhưng không có vũng.
Cách làm quen thuộc ở miền Tây là đánh rãnh thoát nước quanh bờ và vài rãnh xương cá trong ruộng ngay khi trục bùn xong, để mưa xuống là nước rút đi được. Khi cây lúa được khoảng hai, ba lá, rễ đã bám chắc, lúc này mới cho nước láng mặt ruộng rồi tăng dần lên vài phân. Đưa nước vào đúng lúc này còn có tác dụng ép cỏ, nhất là các loại cỏ nảy mầm cùng lúa.
Lúa cấy thì khác: mạ đã có rễ, việc cần là giúp mạ bén rễ nhanh. Sau cấy giữ lớp nước nông vừa đủ ngập gốc, không để khô nứt mặt ruộng vì mạ mới cấy rất dễ héo dưới nắng. Không dâng nước sâu tới ngọn mạ, vì mạ non bị ngập lâu sẽ thối và dễ bị ốc ăn. Ở miền Bắc vụ xuân, lớp nước còn giúp giữ ấm cho mạ trong những đêm lạnh.
Phơi ruộng cuối đẻ nhánh: làm lúc nào, phơi đến đâu
Phơi ruộng, có nơi gọi là nong ruộng hay tháo cạn giữa vụ, là việc chủ động rút hết nước khi lúa đã đẻ đủ số dảnh cần thiết. Mục đích chính là chặn các nhánh đẻ muộn. Những nhánh ra sau thường không kịp trổ bông hoặc chỉ cho bông nhỏ, nhưng vẫn ăn dinh dưỡng, làm ruộng rậm, ẩm, dễ phát sinh sâu bệnh. Phơi ruộng còn đẩy khí độc ra khỏi đất, buộc rễ ăn sâu xuống tìm nước, nhờ vậy cây cứng hơn và ít đổ ngã về cuối vụ.
Nhận biết thời điểm: đếm số dảnh trên một khóm hoặc một khung đếm nhỏ ở vài chỗ trong ruộng; khi số dảnh đã gần bằng số bông mong muốn theo khuyến cáo cho giống và vùng đó, và lá lúa xanh đậm, khép tán dần, là lúc phơi. Với giống ngắn ngày ở Nam Bộ, thời điểm này thường rơi vào khoảng một tháng tới hơn một tháng sau sạ; vụ xuân ở đồng bằng sông Hồng với giống dài ngày hơn thì muộn hơn. Nếu đã thấy đòng non khi bóc dảnh thì đã quá muộn để phơi.
Phơi đến khi mặt ruộng se lại, nứt chân chim, tức là các vết nứt nhỏ như chân chim, đi xuống không lún sâu. Thường mất khoảng năm đến bảy ngày nắng, lâu hơn nếu trời âm u. Không phơi tới nứt toác thành khe lớn, vì rễ sẽ bị đứt và lá lúa bắt đầu vàng, cuộn. Thấy lá lúa hơi chuyển màu nhạt là dấu hiệu cây đã được hãm đúng mức, cho nước vào lại.
Ruộng lúa đẻ kém, thưa, dảnh ít thì không nên phơi, hoặc phơi nhẹ. Phơi để hãm nhánh chỉ có ý nghĩa với ruộng đã đủ, hoặc dư dảnh.
Giữ nước từ làm đòng tới sau trổ và những lúc phải xả gấp
Làm đòng – trổ là giai đoạn "khát" nhất. Từ lúc đòng non xuất hiện tới khoảng một tuần sau khi lúa trổ đều, cây lúa phân hoá bông, hình thành hạt phấn, nở hoa và thụ phấn. Thiếu nước giai đoạn này làm bông ngắn, nhiều hạt lép, trổ không thoát. Ruộng nên giữ lớp nước liên tục, sâu hơn giai đoạn đẻ nhánh một chút.
Nắng nóng lúc trổ thì giữ nước sâu hơn. Ở những vùng hay gặp đợt nóng khi lúa trổ, lớp nước giúp hạ nhiệt quanh gốc và giữ độ ẩm trong tán lúa. Đây là lúc không được để ruộng cạn chỉ vì tiết kiệm công bơm.
Mưa lớn, ngập sâu thì xả sớm. Lúa non ngập quá ngọn vài ngày liền có thể chết, lúa lớn ngập lâu dễ thối thân, đổ. Mở các lỗ thoát, rãnh, cống ngay khi mưa bắt đầu dồn, không đợi tạnh hẳn. Với vùng trũng, khơi thông mương trước mùa mưa là việc cần làm từ khi chưa xuống giống.
Nước kênh có mặn hoặc có phèn thì ngưng lấy. Ở vùng ven biển và vùng phèn, đo nước kênh trước khi bơm vào ruộng, nhất là cuối mùa khô và đầu mùa mưa. Thiếu nước một vài ngày ít hại hơn đưa nước mặn hay nước phèn vào ruộng lúa đang làm đòng.
Ruộng phun thuốc bảo vệ thực vật thì giữ nước theo hướng dẫn trên nhãn. Một số loại thuốc yêu cầu giữ hoặc rút nước trong số ngày nhất định sau phun. Không xả nước ruộng vừa phun ra kênh dùng chung hay ao cá ngay sau khi phun. Phần đọc nhãn và cách ly thuốc thuộc mảng vật tư, ở đây chỉ nhắc để không làm ngược lịch nước.
Rút cạn trước gặt và những chân ruộng phải làm khác
Rút cạn trước gặt giúp lúa chín đều, hạt chắc, mặt ruộng cứng để người gặt và máy gặt đập liên hợp đi được. Mốc thường dùng là khoảng 7–10 ngày trước ngày gặt dự kiến, lúc phần lớn hạt trên bông đã chuyển sang chín sáp và bắt đầu vàng. Ruộng bùn sâu, đất thịt nặng ở vùng trũng có thể phải rút sớm hơn vài ngày, nếu không máy gặt sa lầy, làm nát gốc rạ và rơi lúa. Rút quá sớm, khi hạt còn đang vào chắc, thì hạt lửng, nhẹ cân.
Ruộng phèn: không phơi ruộng quá khô ở giữa vụ. Đất phèn khi khô sâu bị ô xy hoá, sinh chua và đẩy chất độc lên, lúa vàng lá, chết rễ. Ở vùng phèn nặng, việc hãm nhánh thường làm bằng cách giữ nước nông và thay nước, không phơi nứt nẻ.
Ruộng bậc thang: nước là thứ quý, mất là khó lấy lại. Ruộng thường giữ nước gần như suốt vụ và chỉ cho cạn khi chuẩn bị gặt. Việc cần làm là giữ bờ khỏi rò rỉ và chia nước hợp lý giữa các thửa trên dưới.
Ruộng không chủ động nước: ruộng chờ mưa, ruộng cao hay ruộng cuối kênh thì không áp được lịch trên một cách trọn vẹn. Lúc đó ưu tiên giữ nước cho giai đoạn làm đòng – trổ, những giai đoạn khác chấp nhận khô hơn. Ở các nơi đã chủ động được nước, kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ với ống quan sát mực nước giúp tính chính xác lúc nào cần bơm; phần cắm ống đo và đọc mực nước là kỹ thuật tưới, đã có hướng dẫn riêng ở mảng thuỷ lợi nội đồng.
Câu hỏi thường gặp
Phơi ruộng có làm giảm năng suất không?
Phơi đúng lúc và đúng mức thì không, vì phần bị hãm là các nhánh đẻ muộn vốn ít khi cho bông có hạt chắc. Phơi sai thời điểm, nhất là khi lúa đã làm đòng, hoặc phơi quá khô làm đứt rễ thì lúa bị ảnh hưởng thật. Ruộng thưa, đẻ kém thì không cần phơi.
Làm sao biết lúa sắp làm đòng để ngưng phơi?
Bóc vài dảnh chính ở nhiều chỗ trong ruộng, tách bẹ lá sát gốc ra xem. Thấy đầu đòng non màu trắng như sợi lông nhỏ là lúa đã làm đòng, cần đưa nước vào lại ngay. Theo dõi mỗi vài ngày từ khi lúa khép tán để không bị lỡ mốc này.
Ruộng bị mưa ngập ngay sau khi sạ thì phải làm gì?
Mở rãnh và lỗ thoát nước càng sớm càng tốt để mặt ruộng trở lại ẩm. Hạt ngâm dưới nước lâu sẽ thối hoặc trôi dồn về chỗ trũng. Sau khi nước rút, đi thăm ruộng xem chỗ nào mất mầm nhiều; nếu chỗ trống lớn thì dặm bằng mạ hoặc sạ lại cục bộ cho kịp lứa lúa.
Có nên để nước sâu để diệt cỏ cho đỡ phải làm cỏ?
Nước nông vài phân đúng lúc sau gieo đã ức chế được nhiều loại cỏ nảy mầm. Dâng nước sâu quá làm lúa non vươn yếu, đẻ nhánh kém và tạo điều kiện cho ốc bươu vàng. Cỏ đã lên cao thì ngâm nước sâu cũng ít tác dụng, phải dùng biện pháp khác.
Rút nước trước gặt bao lâu là vừa với ruộng gặt bằng máy?
Thường khoảng một tuần tới mười ngày trước khi gặt, khi phần lớn hạt đã chín sáp và ngả vàng. Ruộng đất bùn sâu, chân trũng thì rút sớm hơn để mặt ruộng đủ cứng. Hỏi trước chủ máy gặt về độ cứng mặt ruộng họ cần, vì mỗi loại máy chịu lún khác nhau.
Lúa bị nghẹt rễ, vàng lá sau khi vùi rơm có nên rút nước không?
Thường nên rút nước cho ruộng khô se vài ngày để đất thoáng khí, khí độc thoát ra, sau đó cho nước mới vào. Nếu là ruộng phèn thì không phơi quá khô mà thay nước. Trường hợp lúa vàng kéo dài, nên mời cán bộ khuyến nông hoặc bảo vệ thực vật địa phương xem tận ruộng để phân biệt với bệnh hay thiếu dinh dưỡng.