Trên đất cát ven biển miền Trung, VAC làm được nếu giải xong ba điểm nghẽn theo đúng thứ tự: chắn gió và cát bay bằng đai cây, trữ nước ngọt bằng ao hoặc hồ cho mùa khô, rồi dùng phân chuồng và chất hữu cơ để cát giữ được nước và chất dinh dưỡng. Làm vườn và chuồng trước khi có đai chắn gió và nguồn nước thường thất bại ngay mùa khô đầu tiên.
Dải đất cát chạy dọc bờ biển từ Bắc Trung Bộ vào Nam Trung Bộ có những đặc điểm chung: cát thô, ít mùn, nước thấm rất nhanh, nắng gắt, gió mùa mạnh, mùa mưa ngắn kèm bão, mùa khô dài. Riêng vùng khô hạn Nam Trung Bộ như Ninh Thuận cũ (nay thuộc Khánh Hoà) thì lượng mưa thuộc loại thấp nhất cả nước. Trên nền như vậy, cái lợi của VAC là biến phân chuồng thành thứ quý nhất của vườn, vì không có chất hữu cơ thì cát chẳng giữ lại được gì.
Vì sao đất cát làm khó cả ba phần V, A, C
Cát có hạt to, khe hở lớn nên nước tưới xuống chỉ một lúc đã thấm qua vùng rễ, kéo theo phân bón tan trong nước. Bón phân vô cơ trên cát mà không có chất hữu cơ thì một phần lớn rửa trôi theo nước tưới đầu tiên. Ban trưa mặt cát nóng rát, rễ non gần mặt đất dễ bị héo. Đó là chuyện của phần vườn.
Phần ao gặp chuyện giữ nước. Đào ao trên cát mà không lót đáy thì nước rút gần như tức thì, trừ nơi mạch nước ngầm cao. Ở sát biển còn có nguy cơ nước ngầm lợ, càng đào sâu càng mặn. Phần chuồng thì chịu nắng nóng, gió cát và thiếu thức ăn xanh vào mùa khô.
Cái được của đất cát là dễ làm, thoát nước tốt sau mưa lớn, ít bị úng kéo dài, cây ăn củ như khoai lang, lạc, củ đậu cho củ đẹp. Nhiều vùng cát nổi tiếng với hành, tỏi, dưa hấu, rau màu chính nhờ đặc tính này. Vì vậy mục tiêu không phải biến cát thành đất phù sa, mà là thêm đủ hữu cơ và nước để cây sống qua mùa khô.
Bước một: đai cây chắn gió và cát bay
Phi lao ở tuyến ngoài. Phi lao là cây chắn gió cát quen thuộc nhất dọc bờ biển miền Trung, chịu được gió mặn, đất nghèo. Hàng phi lao trồng dày ở phía hướng gió chính giúp giảm sức gió và giữ cát cho vườn phía trong. Lá phi lao rụng là lớp phủ tốt cho mặt cát.
Cây bụi và cỏ ở tuyến trong. Phi lao cao nhưng gốc thưa, gió vẫn luồn sát mặt đất. Nhiều hộ trồng thêm một hàng cây bụi, xương rồng hoặc cỏ thân bò phía dưới để chặn cát bay sát mặt.
Hàng rào sống quanh vườn. Quanh vườn rau và chuồng nên có hàng rào cây như keo, dâm bụt, chè tàu hoặc cây họ đậu chịu hạn. Hàng rào vừa chắn gió, vừa cho lá xanh tủ gốc hoặc làm thức ăn cho dê nếu chọn loại phù hợp.
Kiên nhẫn với thời gian. Đai cây cần vài năm mới phát huy. Trong thời gian chờ, dùng tạm phên tre, lưới che, bờ rào bằng tàu dừa, lá chuối khô để che các luống rau non. Đai rừng phòng hộ ven biển do nhà nước quản lý thì không được chặt; đai cây của hộ trồng trong vườn nhà mới là phần tự quyết.
Bước hai: trữ nước ngọt cho mùa khô
Nguồn nước quyết định quy mô của cả mô hình trên đất cát. Có ba nguồn chính: nước mưa, nước ngầm qua giếng khoan hoặc giếng đào, và nước từ kênh mương thuỷ lợi nếu vùng đó có. Mùa mưa ngắn mà mưa lớn, nên việc trữ được bao nhiêu nước mưa vào ao, hồ, bể là chuyện sống còn cho các tháng nắng.
Ao trên cát thường phải lót đáy và thành bằng bạt chuyên dụng hoặc nện đất sét để giữ nước. Ao lót bạt nên có mái che hoặc giàn cây leo một phần để giảm bốc hơi, và mép bạt được chôn chắc để gió không lật. Ao không quá sâu cũng không quá nông: quá nông thì nước nóng lên nhanh, cá không chịu được; quá sâu thì tốn công đào và tốn bạt.
Với nước ngầm, điểm cần nhớ là không khai thác quá mức. Ở vùng sát biển, bơm liên tục nhiều giếng trong mùa khô có thể làm nước mặn lấn vào tầng nước ngọt, giếng chuyển lợ. Nên theo dõi vị của nước giếng qua từng tháng, và khi thấy lợ dần thì giảm bơm, chuyển sang tưới tiết kiệm. Tưới gốc, tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát, phủ gốc dày giảm được đáng kể lượng nước cần. Chọn hệ tưới cụ thể như nhỏ giọt, phun mưa là phần kỹ thuật riêng; ở đây chỉ nhấn mạnh là trên cát, tưới ít mà đều hơn tưới nhiều mà thưa.
Bước ba: phân chuồng là xương sống của vườn cát
Trên đất phù sa, phân chuồng là phần bổ sung. Trên đất cát, phân chuồng là nền. Chất hữu cơ hoai mục bám vào giữa các hạt cát, giữ nước lại vùng rễ lâu hơn, giữ chất dinh dưỡng không bị rửa trôi ngay và nuôi vi sinh vật đất. Không có nó thì phân vô cơ bón vào hiệu quả thấp và cây rất dễ thiếu vi lượng.
Vì thế trong VAC vùng cát, phần chuồng không chỉ là nguồn thực phẩm mà là nhà máy làm phân cho vườn. Nhiều hộ trồng hành, tỏi, rau màu trên cát coi lượng phân chuồng có được mỗi năm là giới hạn diện tích có thể canh tác tốt. Phân dê, phân bò, phân gà sau khi ủ hoai đều dùng được; phân gà giàu đạm hơn nên cần ủ kỹ và dùng lượng ít hơn.
Bên cạnh phân chuồng, mọi nguồn hữu cơ khác đều nên giữ lại: lá phi lao, rơm, thân lạc sau thu hoạch, cỏ cắt, vỏ trấu, bùn ao lót bạt sau mỗi lần thay nước. Lớp phủ dày trên mặt luống giảm nóng mặt cát buổi trưa, giữ ẩm và dần biến thành mùn. Trồng cây họ đậu như lạc, đậu xanh luân phiên với rau cũng giúp đất cát có thêm đạm và rễ cây để lại chất hữu cơ.
Chọn cây và con nuôi hợp nắng gió
Cây vườn. Rau màu chịu nắng và hợp đất thoát nước như hành, tỏi, dưa hấu, khoai lang, lạc, ớt, các loại bầu bí; cây ăn trái chịu hạn như dừa, táo, nho ở vùng khô Nam Trung Bộ, xoài, mãng cầu, thanh long ở nơi có nước tưới. Cây cần nhiều nước như rau ăn lá thì trồng gần nguồn nước và có che bớt nắng.
Con nuôi. Dê và cừu là vật nuôi gắn với vùng khô Nam Trung Bộ vì chịu nắng, chịu khát tốt hơn nhiều loài khác và ăn được lá cây bụi. Bò, gà ta cũng phổ biến. Lợn cần nhiều nước để tắm rửa chuồng nên chỉ hợp ở hộ có nguồn nước ổn định.
Cá trong ao bạt. Ao lót bạt diện tích nhỏ thường nuôi những loài chịu được nước ấm và mật độ vừa phải như rô phi, cá trê, cá rô đồng. Ao bạt không có lớp bùn đáy nên thức ăn tự nhiên ít, cá phụ thuộc thức ăn bổ sung nhiều hơn ao đất.
Thức ăn xanh cho mùa khô. Trồng sẵn một khu cỏ chịu hạn và cây thức ăn như keo dậu, chè khổng lồ gần nguồn nước, đồng thời phơi khô hoặc ủ chua thân cây ngô, dây lang, thân lạc khi đang có nhiều. Keo dậu có chất mimosine, chỉ nên cho dê bò ăn với tỷ lệ vừa phải, không thay toàn bộ khẩu phần.
Lịch làm việc theo mùa mưa và mùa bão
Phần lớn duyên hải miền Trung có mùa mưa dồn vào cuối năm, cùng lúc với mùa bão và lũ. Đây là thời điểm để trữ nước, trồng thêm cây chắn gió vì đất ẩm cây dễ bén rễ, và ủ thật nhiều phân từ nguồn chất xanh đang dồi dào. Trước mỗi cơn bão, chằng chống mái chuồng, gia cố giàn leo, thu hoạch sớm rau trái có thể, kiểm tra mép bạt ao và lối xả tràn.
Mùa khô kéo dài nhiều tháng tiếp theo là lúc tiết kiệm nước tối đa: ưu tiên nước cho cây lâu năm và vật nuôi, thu hẹp diện tích rau ăn lá nếu nước thiếu, tăng lớp phủ gốc, cho vật nuôi uống đủ và có chỗ râm mát. Nắng nóng gay gắt cũng là lúc dễ cháy lớp phủ khô và đai phi lao, nên không đốt rác gần vườn.
Đầu mùa khô là lúc bón phân chuồng hoai và xới trộn vào luống, để chất hữu cơ có thời gian giữ ẩm trong những tháng khó nhất. Cách nghĩ ngược lại, đợi cây héo mới bón, thường đã muộn.
Sau mỗi mùa bão, việc đầu tiên là kiểm tra lại nước giếng và nước ao. Nước lũ tràn qua chuồng, hố phân rồi chảy vào giếng đào là chuyện khá thường gặp ở vùng trũng ven biển. Giếng bị ngập nên được thau rửa và khử trùng theo hướng dẫn của trạm y tế xã trước khi dùng lại cho người và vật nuôi; luống rau bị nước bẩn tràn qua nên chờ thêm một thời gian rồi mới thu hái, rửa thật kỹ.
Ví dụ giả định: một vườn cát nhỏ đi qua ba năm
Để dễ hình dung thứ tự, thử theo dõi một vườn cát giả định khoảng một nghìn mét vuông ở sát biển, ban đầu chỉ có cát trắng và vài bụi cỏ. Năm thứ nhất, gia đình chưa vội trồng rau diện rộng. Việc chính là trồng hàng phi lao và hàng rào cây bụi ở phía gió chính, đào một ao nhỏ lót bạt để hứng nước mưa, dựng chuồng gà nhỏ có mái và hố ủ cạnh chuồng. Rau chỉ trồng vài luống sát ao để thử.
Năm thứ hai, đai cây bắt đầu đỡ gió cho phần vườn trong. Phân gà ủ từ năm trước cùng lá phi lao, rơm mua thêm được trộn vào các luống, diện tích rau mở rộng dần theo lượng phân có được. Gia đình thêm vài con dê, trồng khu cỏ chịu hạn và vài cây ăn trái chịu hạn. Nước thay ao dùng tưới rau.
Năm thứ ba, lớp cát ở các luống trồng lâu đã sẫm màu hơn, giữ ẩm lâu hơn sau mỗi lần tưới. Lúc này gia đình mới tính chuyện tăng số dê hay thêm cá vào ao, căn cứ vào lượng cỏ và nước thực tế qua mùa khô vừa rồi. Ví dụ này không nêu sản lượng hay thu nhập vì những con số đó phụ thuộc giống, nước, thời tiết từng năm; điều nó muốn cho thấy là thứ tự chắn gió, nước, rồi hữu cơ, và mở rộng theo đúng lượng phân tự làm ra.
Câu hỏi thường gặp
Đất cát trắng có trồng rau được không?
Được nếu có nước tưới và bón nhiều chất hữu cơ. Nhiều vùng ven biển miền Trung trồng hành, tỏi, rau màu trên cát từ lâu. Cần lên luống, trộn phân chuồng hoai, phủ rơm hoặc lá trên mặt luống và tưới ít một nhưng đều đặn trong ngày nắng.
Ao lót bạt có cần thay nước không?
Có. Ao bạt không có lớp bùn đáy để phân giải chất thải nên nước dễ bẩn khi nuôi cá. Thay một phần nước định kỳ, phần nước cũ và cặn đáy rất hợp để tưới rau và cây ăn trái vì chứa chất dinh dưỡng. Cách này đưa chất thải của ao trở lại vườn đúng tinh thần VAC.
Giếng nước bị lợ dần thì làm sao?
Giếng lợ dần thường là dấu hiệu nước mặn đang lấn vào tầng nước ngầm do bơm nhiều trong mùa khô. Nên giảm bơm, chuyển sang tưới tiết kiệm, tăng trữ nước mưa, và báo cho chính quyền hoặc cán bộ thuỷ lợi địa phương để được hướng dẫn. Không dùng nước lợ tưới rau ăn lá.
Dê nuôi trên đất cát có cần chuồng sàn không?
Dê không ưa ẩm ướt nên chuồng sàn cách mặt đất giúp chuồng khô, sạch và dễ thu phân. Trên đất cát thoát nước tốt, một số hộ nuôi trên nền cát có mái che vẫn được. Chi tiết làm chuồng, thức ăn và phòng bệnh cho dê nên xem tài liệu chuyên về chăn nuôi dê.
Có nên đốt lá phi lao rụng không?
Không nên. Lá phi lao là lớp phủ đất tốt, giảm cát bay, giữ ẩm và dần thành chất hữu cơ cho cát. Đốt lá vừa mất nguồn hữu cơ vừa dễ gây cháy lan ra đai cây và rừng phòng hộ trong mùa khô, có thể vi phạm quy định phòng cháy rừng.
Vùng cát có nên nuôi lợn không?
Chỉ nên nuôi khi có nguồn nước ổn định để rửa chuồng và cho lợn uống, đồng thời có chỗ xử lý chất thải. Trên cát nước thải thấm nhanh xuống tầng nước ngầm, nếu chuồng gần giếng thì nguy cơ ô nhiễm giếng cao. Nhiều hộ vùng khô chọn dê, bò, gà vì ít tốn nước hơn.