TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Nông nghiệp tuần hoàn và phụ phẩm

Ủ chua thân ngô, ủ rơm với urê: biến phụ phẩm trồng trọt thành thức ăn cho trâu bò

Thân ngô sau bẻ bắp, rơm, ngọn mía, dây lang thành thức ăn thô trữ cho trâu bò mùa khan cỏ. Nguyên lý ủ chua, ủ urê, dấu hiệu ủ đạt và những điều không được làm.

A farmer seen from behind chopping green corn stalks with a small machine beside a cattle shed, piles of chopped stalks on a tarp, two cows watching, central highlands countryside

Thân cây ngô sau khi bẻ bắp, rơm lúa, ngọn mía, dây khoai lang, thân lá lạc là nguồn thức ăn thô lớn cho trâu, bò, dê nếu được xử lý đúng. Có hai cách phổ biến ở nông hộ: ủ chua (ủ xanh) các phụ phẩm còn tươi như thân ngô, ngọn mía, cỏ dư trong túi hoặc hố kín để giữ được nhiều tháng; và ủ rơm khô với urê để tăng độ tiêu hoá và bổ sung đạm cho gia súc nhai lại trưởng thành. Cả hai giúp có thức ăn dự trữ qua mùa khô, mùa rét hay mùa lũ khi cỏ tươi khan hiếm.

Đây là vòng tuần hoàn chặt nhất giữa trồng trọt và chăn nuôi: phần cây mà người không ăn được thành thịt, sữa và phân, phân lại quay về ruộng ngô, ruộng lúa. Bài nói ở góc nông hộ và ở mức nguyên lý; khẩu phần, cách nuôi và phòng bệnh cho từng loài thuộc phạm vi các trang chuyên về chăn nuôi, và mọi thay đổi khẩu phần nên hỏi cán bộ thú y, khuyến nông địa phương.

Vì sao trâu bò ăn được thứ mà heo, gà không ăn được

Trâu, bò, dê, cừu là gia súc nhai lại. Dạ dày của chúng có bốn túi, trong đó túi lớn nhất là dạ cỏ chứa vô số vi sinh vật. Chính vi sinh vật trong dạ cỏ phân giải chất xơ của rơm, thân cây, cỏ thành các chất mà con vật hấp thu được. Heo, gà không có bộ máy này nên không tận dụng được rơm, thân ngô già.

Tuy vậy, khả năng của vi sinh vật dạ cỏ cũng có giới hạn. Rơm khô và thân cây già có nhiều lignin, một chất gần như không phân giải được, bao bọc lấy phần xơ dễ tiêu. Rơm lại nghèo đạm, trong khi vi sinh vật cần đạm để sinh sôi. Kết quả là trâu bò ăn rơm không xử lý thì ăn ít, tiêu hoá kém, gầy dần nếu không có thêm cỏ xanh và thức ăn bổ sung.

Hai cách xử lý phổ biến nhắm vào hai điểm yếu này. Ủ chua giữ phụ phẩm ở trạng thái còn xanh, nhiều dinh dưỡng, không để nó khô già đi. Ủ urê thì làm mềm cấu trúc xơ của rơm và bổ sung nguồn đạm cho vi sinh vật dạ cỏ. Cả hai đều là cách cũ, được khuyến nông phổ biến nhiều năm ở cả miền núi lẫn đồng bằng.

Phụ phẩm nào dùng được, theo mùa nào

Mỗi vùng có loại phụ phẩm chính khác nhau theo cơ cấu cây trồng. Bảng dưới gợi ý những nguồn phổ biến và cách xử lý thường dùng.

Phụ phẩmVùng nhiềuCách xử lý thường dùngLưu ý
Thân lá ngô sau bẻ bắpMiền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng vụ đôngỦ chua khi còn xanhThu ngay sau bẻ bắp, để khô già thì giảm giá trị
Rơm lúaHai đồng bằng lớn, ven biển miền TrungPhơi khô, ủ urêKhông dùng rơm mốc
Ngọn, lá míaVùng mía Bắc Trung Bộ, duyên hải, Tây NinhCho ăn tươi hoặc ủ chuaBăm ngắn, mùa thu hoạch mía có rất nhiều
Dây khoai langKhắp nơiCho ăn tươi, ủ chua phần dưHéo bớt nước trước khi ủ
Thân lá lạc, đậuĐất cát ven biển, trung duPhơi khô làm cỏ khôGiàu đạm hơn rơm, nên trộn với rơm
Lá sắnTây Nguyên, trung du, miền núiPhơi héo hoặc ủ chua trước khi cho ănLá tươi có chất có thể gây ngộ độc, không cho ăn nhiều khi còn tươi

Phụ phẩm từ ruộng vừa phun thuốc bảo vệ thực vật chỉ được dùng sau khi đã qua đủ thời gian cách ly ghi trên nhãn.

Ủ chua thân ngô và phụ phẩm xanh: nguyên lý và các bước

Ủ chua là để vi khuẩn lactic lên men đường có sẵn trong cây trong điều kiện kín khí, tạo axit làm môi trường chua, ngăn vi sinh vật gây thối. Chìa khoá là kín khí và đủ đường; thiếu một trong hai thì khối ủ sẽ mốc hoặc thối.

  1. Thu phụ phẩm khi còn xanh: thân ngô cắt ngay sau khi bẻ bắp, ngọn mía ngay khi chặt mía. Để vài ngày ngoài nắng cây khô già đi, mất đường, ủ khó đạt.
  2. Băm ngắn: băm thành đoạn ngắn vài phân, bằng máy băm hoặc dao. Đoạn ngắn nén chặt được, đuổi được không khí ra ngoài.
  3. Điều chỉnh độ ẩm: phụ phẩm quá ướt (vừa mưa, dây lang mọng nước) thì phơi héo nửa ngày; quá khô thì vẩy thêm nước. Bóp một nắm, thấy ẩm tay mà không chảy nước là vừa.
  4. Bổ sung nếu cần: với nguyên liệu ít đường như cỏ già, nhiều hộ trộn thêm một ít rỉ mật hoặc cám theo hướng dẫn khuyến nông để men lên tốt; muối ăn chỉ dùng lượng rất nhỏ nếu có hướng dẫn.
  5. Nén chặt và đóng kín: cho vào túi nilon dày, thùng phuy hoặc hố lót bạt, mỗi lớp nén thật chặt, cuối cùng buộc hoặc phủ kín, đè vật nặng lên. Càng ít không khí càng tốt.
  6. Chờ lên men: sau khoảng ba bốn tuần là dùng được, khối ủ đạt có thể để được lâu nếu không bị hở. Mỗi lần lấy ra một lượng vừa cho ăn trong ngày, đóng kín lại ngay.

Thức ăn ủ chua đạt có màu vàng xanh hoặc vàng nâu, mùi chua thơm dễ chịu, cầm lên không nhớt. Có mốc trắng xanh từng mảng, mùi hôi thối hay mùi khét, màu đen nhớt là hỏng, phải bỏ phần đó, không cho ăn.

Ủ rơm với urê: làm mềm xơ, thêm đạm

Ủ urê là cách xử lý rơm khô được giới thiệu rộng rãi ở nhiều tỉnh. Nguyên lý là urê hoà trong nước, khi ủ kín sẽ phân giải thành amoniac; amoniac làm mềm và phá vỡ một phần liên kết giữa lignin và chất xơ, giúp vi sinh vật dạ cỏ dễ tiếp cận hơn. Một phần đạm còn lại trong rơm trở thành nguồn đạm cho vi sinh vật. Rơm ủ đạt mềm hơn, màu vàng sẫm, có mùi khai của amoniac, trâu bò ăn được nhiều hơn rơm khô thường.

Cách làm chung là hoà tan urê vào nước theo tỷ lệ khuyến nông hướng dẫn, tưới đều lên từng lớp rơm, nén chặt trong bao, hố hoặc đống phủ kín bạt, ủ trong vài tuần tuỳ nhiệt độ, trời lạnh phải ủ lâu hơn. Tài liệu khuyến nông thường nêu tỷ lệ urê chỉ vài phần trăm so với khối lượng rơm khô; bà con nên theo đúng hướng dẫn của cán bộ địa phương và không tự tăng lượng urê.

Trước khi cho ăn, lấy rơm ra để thoáng một thời gian cho bay bớt mùi amoniac. Tập cho trâu bò ăn từ ít đến nhiều trong vài ngày, kết hợp với cỏ xanh và nước uống sạch đầy đủ.

Ủ chua và ủ urê khác nhau thế nào

Hai cách ủ hay bị nhầm với nhau vì cùng đóng kín và cùng chờ vài tuần. Thật ra chúng làm việc khác nhau, cho nguyên liệu khác nhau và có rủi ro khác nhau.

Tiêu chíỦ chua (ủ xanh)Ủ rơm với urê
Nguyên liệuPhụ phẩm còn xanh, nhiều nước, có đường: thân ngô, ngọn mía, cỏ dư, dây langRơm khô, thân cây khô nghèo đạm
Cơ chếVi khuẩn lactic lên men, môi trường chua giữ thức ăn không thốiAmoniac từ urê làm mềm xơ và bổ sung đạm
Mục đích chínhGiữ thức ăn xanh để dành qua mùa khanTăng độ tiêu hoá và lượng ăn của rơm
Dấu hiệu đạtVàng xanh, chua thơm, không nhớtMềm, vàng sẫm, mùi khai
Đối tượng dùngTrâu bò, dê; một số loại ủ chua có thể cho heo nếu nguyên liệu phù hợpChỉ gia súc nhai lại trưởng thành
Rủi ro lớn nhấtHở khí gây mốc, thốiNgộ độc urê nếu hoà không tan, không đều, dùng sai loài

Nhiều hộ dùng cả hai: ủ chua thân ngô, ngọn mía vào mùa thu hoạch, ủ urê phần rơm khô cất từ vụ lúa. Kết hợp với cỏ trồng quanh năm, hộ có ba lớp thức ăn thô để xoay qua các tháng khan hiếm.

Dù dùng cách nào, thức ăn thô xử lý chỉ thay một phần cỏ xanh, không phải toàn bộ khẩu phần. Trâu bò cày kéo, bò sinh sản, bò vỗ béo có nhu cầu rất khác nhau, nên khẩu phần cụ thể cần hỏi cán bộ thú y, khuyến nông.

Những điều không được làm khi ủ urê và ủ chua

Không cho heo, gà, vịt, ngựa ăn rơm ủ urê. Chỉ gia súc nhai lại đã trưởng thành mới dùng được nguồn đạm từ urê thông qua vi sinh vật dạ cỏ. Các loài khác có thể bị ngộ độc. Bê, nghé còn nhỏ, dạ cỏ chưa phát triển đầy đủ, cũng không nên cho ăn.

Không rắc urê khô trực tiếp lên rơm hay cho ăn urê. Urê phải được hoà tan hoàn toàn và trải đều, ủ đủ thời gian. Cục urê chưa tan hoặc chỗ rơm đẫm urê có thể gây ngộ độc cấp cho trâu bò. Cất bao urê xa chỗ vật nuôi, ghi rõ để không ai nhầm với muối.

Không cho ăn thức ăn ủ bị mốc, thối. Nấm mốc sinh độc tố có hại cho gan, cho thai, gây sảy thai, giảm sữa. Thấy mốc thì bỏ phần đó, kiểm tra lại cách đóng kín.

Không thay khẩu phần đột ngột. Vi sinh vật dạ cỏ cần thời gian thích nghi. Đổi sang thức ăn ủ quá nhanh dễ gây chướng bụng, tiêu chảy. Khi thấy con vật bỏ ăn, chướng hơi, sùi bọt mép, đứng không vững, phải gọi thú y ngay.

Vòng khép lại: từ ruộng ngô qua chuồng bò về ruộng ngô

Ở nhiều vùng trồng ngô miền núi phía Bắc, sau mỗi vụ ngô người ta thường để thân cây khô trên nương rồi đốt trước vụ sau. Khi chuyển sang ủ chua thân ngô, hộ có thêm nguồn thức ăn cho bò qua mùa đông lạnh, khi cỏ ngừng mọc và trâu bò dễ đói rét. Phân bò được thu gom, ủ và bón lại cho nương ngô vụ sau, giúp đất dốc giữ được chất hữu cơ thay vì bạc màu dần.

Ở vùng mía, ngọn và lá mía mùa thu hoạch có khối lượng rất lớn, phần nhiều bị đốt ngay trên ruộng. Băm ngọn mía cho bò ăn tươi hoặc ủ chua để dành, phần lá già dùng phủ gốc mía lưu gốc, là một vòng tuần hoàn có sẵn trên chính ruộng mía.

Vòng này chỉ bền khi số con nuôi tương xứng với lượng phụ phẩm có được. Một hộ có bao nhiêu phụ phẩm mỗi năm, đủ nuôi bao nhiêu con qua mùa khan, là câu hỏi nên đặt ra trước khi tăng đàn, chứ không phải sau khi đã thiếu thức ăn.

Câu hỏi thường gặp

Thân ngô già đã khô có ủ chua được không?

Thân ngô đã khô già thì ít đường, khó lên men, ủ chua kém đạt. Có thể vẩy nước, trộn thêm rỉ mật theo hướng dẫn, nhưng chất lượng vẫn thấp hơn thân ngô cắt ngay sau bẻ bắp. Thân khô già thường dùng làm thức ăn thô khô hoặc phủ gốc thì hợp hơn.

Rơm ủ urê bao lâu thì cho bò ăn được?

Thường sau vài tuần ủ kín tuỳ nhiệt độ; trời nóng nhanh hơn, trời lạnh chậm hơn. Khi mở ra rơm mềm, vàng sẫm, có mùi khai là đạt. Lấy ra để thoáng bớt mùi trước khi cho ăn và tập cho ăn từ ít đến nhiều.

Thức ăn ủ chua để được bao lâu?

Nếu đóng kín, không thủng túi, không bị chuột cắn, thức ăn ủ chua đạt có thể giữ được nhiều tháng. Sau khi mở, nên dùng hết phần đã lấy ra trong ngày và đóng kín lại ngay phần còn lại để không khí không lọt vào làm mốc.

Lá sắn cho bò ăn có nguy hiểm không?

Lá sắn tươi chứa chất có thể sinh ra độc tố khi tiêu hoá, cho ăn nhiều lúc đói dễ gây ngộ độc. Phơi héo, phơi khô hoặc ủ chua giúp giảm chất này đáng kể. Nên cho ăn lượng vừa phải, xen với thức ăn khác, và gọi thú y khi thấy dấu hiệu bất thường.

Có cần mua máy băm không?

Với vài con bò, băm bằng dao vẫn làm được nhưng tốn công. Máy băm cỡ nhỏ giúp ủ nhanh và ủ chặt hơn, đáng cân nhắc khi lượng phụ phẩm lớn. Nhiều xóm chung nhau một máy hoặc thuê dịch vụ băm theo mùa vụ.

Dê có ăn được rơm ủ urê không?

Dê là gia súc nhai lại nên về nguyên lý có thể dùng, nhưng dê kén ăn và thích lá cây, cỏ non hơn rơm. Nếu muốn dùng cho dê, nên hỏi cán bộ thú y, chỉ dùng cho dê trưởng thành, lượng nhỏ, tập dần và luôn có thức ăn xanh đi kèm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68