Rơm rạ sau gặt có ít nhất sáu lối ra tốt hơn đốt: làm thức ăn thô cho trâu bò, dê; làm giá thể trồng nấm rơm; phủ gốc cây ăn trái, cây công nghiệp và luống rau; làm chất độn, đệm lót chuồng; làm nguyên liệu ủ phân hoặc bổ sung cho hầm biogas; và trả lại ruộng bằng cách vùi đúng cách. Lối ra nào hợp tuỳ vào nhà có nuôi gì, trồng gì, có công và máy cuộn rơm hay không.
Đốt rơm nhanh và rẻ trước mắt nhưng mất phần lớn chất hữu cơ, đạm và lưu huỳnh trong rơm, làm khô cháy lớp mặt ruộng, giết vi sinh vật có ích và gây khói bụi cho cả vùng. Bài này đi qua từng lối ra, điều kiện để làm được, cách giữ rơm khỏi mục, và cách chọn cho từng kiểu nông hộ.
Trong rơm có gì mà đáng giữ lại
Rơm là phần thân và lá còn lại của cây lúa sau khi tuốt hạt. Khối lượng rơm thu được trên ruộng thường xấp xỉ khối lượng thóc, tuỳ giống, tuỳ chiều cao gốc rạ và cách gặt; với máy gặt đập liên hợp, một phần rơm bị cắt vụn rải lại trên ruộng. Như vậy cứ mỗi vụ, ruộng nhà nào cũng có một lượng phụ phẩm ngang với sản phẩm chính.
Thành phần chủ yếu của rơm là chất xơ (xenlulô, hemixenlulô, lignin), cùng một lượng kali khá cao, silic, một ít đạm và lưu huỳnh. Kali trong rơm là phần dễ trả lại cho đất nhất; nhiều tài liệu khuyến nông nhắc rằng phần lớn kali cây lúa hút lên nằm ở rơm chứ không nằm ở hạt. Đốt rơm làm mất gần hết đạm và lưu huỳnh bay theo khói, còn kali trong tro dễ bị nước mưa rửa trôi nếu không kịp vùi.
Với vật nuôi, rơm là thức ăn nghèo dinh dưỡng, khó tiêu, nhưng là nguồn xơ rẻ cho trâu bò vào mùa khan cỏ. Với nấm, rơm là giá thể có sẵn và đúng loại. Với đất, rơm là nguồn mùn chậm, giúp đất tơi, giữ ẩm. Chính vì dùng được vào nhiều việc mà đốt rơm là cách dùng kém nhất.
Sáu lối ra cho rơm và điều kiện để làm
Bảng dưới tóm lược sáu cách dùng rơm phổ biến. Một nông hộ có thể kết hợp hai ba lối ra, ví dụ phần rơm khô tốt cho bò, phần rơm ẩm làm nấm hoặc phủ gốc.
| Lối ra | Hợp với nhà nào | Điều kiện cần |
|---|---|---|
| Thức ăn thô cho trâu, bò, dê | Nhà nuôi gia súc ăn cỏ | Rơm khô, không mốc; có chỗ cất có mái; nên xử lý để tăng tiêu hoá |
| Trồng nấm rơm | Nhà có công, có chỗ râm mát, gần chợ | Rơm sạch, không mốc, không dính thuốc; nguồn meo giống tin cậy |
| Phủ gốc cây, phủ luống | Nhà có vườn cây ăn trái, cây công nghiệp, rau | Rơm khô hay ẩm đều được; tránh rơm có nhiều hạt cỏ |
| Chất độn, đệm lót chuồng | Nhà nuôi gà, vịt, heo, bò | Rơm khô, băm ngắn nếu được; thay định kỳ, đưa đi ủ sau khi dùng |
| Nguyên liệu ủ phân, bổ sung biogas | Nhà có phân chuồng để phối trộn | Băm nhỏ, trộn với phân giàu đạm; biogas chỉ thêm ít, băm thật nhỏ |
| Trả lại ruộng | Nhà làm lúa liên tục, không nuôi | Thời gian chờ đủ trước vụ sau; có chế phẩm hoặc thời gian ngâm hợp lý |
Kỹ thuật ủ rơm thành phân và dùng chế phẩm vi sinh thuộc phạm vi các trang chuyên về vật tư nông nghiệp; ở đây tập trung vào việc chọn lối ra trong vòng tuần hoàn của nông hộ.
Đi sâu vào từng lối ra
Cho trâu bò ăn. Rơm khô là nguồn xơ chính của trâu bò ở nhiều vùng đồng bằng vào mùa khô, mùa lũ. Rơm để nguyên giá trị thấp, con vật ăn ít và tiêu hoá kém; xử lý bằng cách ủ urê hoặc phối trộn với cỏ xanh, rỉ mật giúp tăng lượng ăn và độ tiêu hoá. Chỉ dùng cho gia súc nhai lại đã trưởng thành, không cho heo, gà ăn rơm ủ urê. Cách làm có ở bài riêng về thức ăn thô trong chuyên mục.
Trồng nấm rơm. Một bó rơm qua luống nấm cho ra nấm ăn được hoặc bán được, rồi bã nấm lại về ruộng hay vườn. Đây là lối ra cho giá trị cao nhất trên mỗi ký rơm nhưng cũng tốn công, cần canh nhiệt độ, độ ẩm và dễ thất bại khi thời tiết bất lợi.
Phủ gốc. Một lớp rơm dày trên mặt đất giữ ẩm mùa khô, giảm cỏ dại, giảm đất bị nắng nung và mưa đóng váng. Rơm phân huỷ dần thành mùn ngay tại gốc. Đây là lối ra ít công nhất, hợp với vườn cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái, luống dưa, luống ớt. Cần chừa khoảng trống quanh cổ rễ để tránh ẩm thối và nơi trú cho chuột.
Lót chuồng. Rơm khô thấm nước tiểu, giữ chuồng khô ráo, sau đó cả rơm lẫn phân đi vào đống ủ. Rơm đã qua chuồng ủ nhanh hoai hơn rơm sạch vì đã có sẵn đạm từ phân và nước tiểu.
Trả lại ruộng. Vùi rơm tươi rồi cấy ngay dễ làm lúa non bị ngộ độc hữu cơ khi rơm phân huỷ yếm khí dưới nước. Nếu trả rơm về ruộng, cần thời gian chờ, cày vùi sớm, cho ruộng ngập nông rồi rút, hoặc dùng chế phẩm giúp phân huỷ nhanh. Khi lịch thời vụ quá sát, đưa rơm ra khỏi ruộng thường an toàn hơn.
Vì sao không nên đốt rơm, kể cả khi vội
Lý do bà con đốt rơm rất dễ hiểu: gặt xong phải làm đất ngay cho kịp lịch xuống giống, rơm vướng máy cày, không có chỗ chứa, không ai mua, còn tin rằng tro bón ruộng và lửa diệt được mầm sâu bệnh. Một phần niềm tin này có cơ sở, nhưng thiệt hại thì lớn hơn.
Khi đốt, phần lớn đạm và lưu huỳnh trong rơm bay theo khói; lớp đất mặt bị nung nóng, vi sinh vật và thiên địch trên ruộng chết; tro rời rạc dễ bị nước cuốn trôi. Khói đốt đồng chứa bụi mịn, gây khó thở cho người già, trẻ nhỏ trong xóm và lan xa tới khu dân cư, có năm còn làm giảm tầm nhìn trên các tuyến đường gần ruộng. Đốt lan sang bờ bụi, vườn tạp, rừng phòng hộ là chuyện đã xảy ra nhiều lần.
Về mặt pháp lý, việc đốt phụ phẩm nông nghiệp gây ô nhiễm đã bị nhiều địa phương cấm hoặc hạn chế bằng quy định riêng, và nằm trong nhóm hành vi gây ô nhiễm môi trường có thể bị xử lý. Quy định cụ thể khác nhau theo nơi và theo thời điểm, bà con nên hỏi uỷ ban xã hoặc cán bộ nông nghiệp. Còn về diệt mầm bệnh, các biện pháp như cày ải, phơi đất, luân canh và vệ sinh đồng ruộng làm được việc đó mà không phải đốt.
Rơm ở mỗi vùng một khác
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, mỗi năm làm hai ba vụ, lịch xuống giống sát nhau nên áp lực dọn rơm rất lớn. Đây cũng là nơi dịch vụ cuộn rơm phát triển mạnh nhất: máy cuộn chạy theo sau máy gặt, rơm cuộn được thương lái gom chở đi bán cho các vùng nuôi bò và trồng nấm. Rơm vụ hè thu gặt vào mùa mưa khó phơi, dễ mốc, nên thường được dùng nhanh cho nấm hoặc phủ gốc thay vì cất lâu.
Ở Đồng bằng sông Hồng, ruộng manh mún, máy gặt nhỏ, rơm thường được gom tay. Vụ mùa gặt vào cuối mùa mưa, vụ xuân gặt đầu hè. Nhiều hộ không còn nuôi trâu nên rơm dư, đốt đồng từng là chuyện nóng ở ngoại thành Hà Nội mỗi mùa gặt. Nơi còn nuôi bò, nuôi trâu thì rơm vụ mùa phơi khô cất làm thức ăn qua đông.
Ở miền Trung và vùng núi, ruộng ít, rơm quý hơn: dùng cho trâu bò, lót chuồng, phủ luống rau vụ đông, có nơi còn dùng phủ mặt luống chống mưa xối trên đất dốc. Ở những vùng như vậy, câu chuyện ít khi là đốt rơm mà là thiếu rơm, phải dùng tiết kiệm và đổi qua lại giữa các hộ.
Vì điều kiện khác nhau nên khuyến cáo về rơm cũng phải đọc theo vùng. Một cách làm hiệu quả ở miền Tây có thể không hợp ở ruộng bậc thang miền núi và ngược lại.
Giữ rơm thế nào cho khỏi mục, khỏi mốc
Phơi khô trước khi cất. Rơm ẩm cất đống sẽ nóng lên, mốc trắng, mốc xanh, có mùi chua. Rơm mốc không cho vật nuôi ăn vì độc tố nấm mốc có thể gây bệnh, cũng không dùng trồng nấm vì nấm mốc lấn mất nấm rơm. Gặt vụ có nắng thì phơi trên ruộng một hai ngày, trở mặt rồi mới gom.
Cuộn hay bó cho gọn. Máy cuộn rơm cỡ nhỏ ngày càng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng. Rơm cuộn tròn chặt, ít tốn chỗ, dễ chở và lâu hỏng hơn rơm rời. Nhiều nơi có dịch vụ cuộn rơm thuê theo cuộn hoặc đổi rơm lấy công cuộn.
Cất nơi có mái, kê cao. Đống rơm ngoài trời nên làm chóp nhọn cho nước mưa thoát, có tấm che phía trên, chân đống kê trên gạch hay cành cây để không hút ẩm từ đất. Kho có mái là tốt nhất nếu có điều kiện.
Phòng cháy. Đống rơm khô rất dễ bắt lửa. Đặt xa bếp, xa đường điện, xa nơi trẻ em chơi; đống rơm ẩm cất lâu có thể tự nóng lên bên trong, cần kiểm tra bằng cách thọc tay hoặc cây sắt vào giữa đống.
Chọn lối ra theo kiểu nông hộ
Không có cách dùng rơm nào tốt nhất cho mọi nhà. Bảng dưới gợi ý thứ tự ưu tiên theo một vài kiểu nông hộ trồng lúa phổ biến.
| Kiểu nông hộ | Ưu tiên 1 | Ưu tiên 2 | Phần dư |
|---|---|---|---|
| Làm lúa, nuôi vài con bò | Rơm khô tốt cất cho bò mùa khan cỏ | Lót chuồng rồi đưa đi ủ | Phủ gốc vườn quanh nhà |
| Làm lúa, có vườn cây ăn trái | Phủ gốc mùa khô | Ủ phân cùng phân chuồng mua thêm | Bán hoặc đổi cho hộ nuôi bò |
| Làm lúa, có người ở nhà, gần chợ | Trồng nấm rơm sau vụ gặt | Bã nấm phủ vườn | Rơm còn lại cuộn bán |
| Làm lúa chuyên, không nuôi, không vườn | Bán hoặc cho dịch vụ cuộn rơm | Trả lại ruộng với đủ thời gian chờ | Không đốt |
Ở những vùng rơm đã thành hàng hoá, bán rơm cuộn cho hộ nuôi bò hoặc cơ sở trồng nấm là cách tuần hoàn ở quy mô vùng: rơm của ruộng này nuôi bò, trồng nấm ở nơi khác.
Câu hỏi thường gặp
Đốt rơm có diệt được sâu bệnh cho vụ sau không?
Đốt chỉ diệt được phần mầm bệnh trên mặt rơm và lớp đất rất mỏng, trong khi giết luôn thiên địch và vi sinh vật có ích. Cày ải, phơi đất, vệ sinh bờ ruộng, luân canh và chọn giống kháng làm được việc đó tốt hơn mà không mất chất hữu cơ.
Rơm ruộng vừa phun thuốc có cho bò ăn được không?
Không nên cho ăn ngay. Rơm từ ruộng vừa phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh hoặc trừ cỏ gần lúc gặt có thể còn tồn dư. Nên hỏi lại loại thuốc đã dùng, đọc thời gian cách ly trên nhãn và để rơm đủ thời gian; không rõ thì dùng rơm đó phủ gốc cây công nghiệp thay vì cho ăn.
Vùi rơm vào ruộng có làm lúa vàng không?
Có thể, nếu vùi rơm tươi rồi cấy, sạ ngay. Rơm phân huỷ trong điều kiện ngập nước sinh ra chất gây hại rễ và tạm thời giữ lại đạm, làm lúa non vàng, chậm đẻ nhánh. Cần cày vùi sớm, có thời gian chờ, hoặc rút nước phơi ruộng khi thấy dấu hiệu.
Rơm máy gặt cắt vụn có dùng được không?
Rơm vụn khó gom để cho bò ăn hay trồng nấm, nhưng vẫn dùng được để vùi trả lại ruộng hoặc gom làm nguyên liệu ủ phân. Ở nơi có nhu cầu rơm cuộn, có thể điều chỉnh để máy gặt rải rơm thành hàng rồi cho máy cuộn đi sau.
Bao lâu thì rơm bị mốc, không dùng được nữa?
Tuỳ độ ẩm khi cất. Rơm phơi thật khô, cuộn chặt, cất có mái có thể giữ được nhiều tháng. Rơm còn ẩm cất đống kín có thể nóng và mốc chỉ sau vài ngày. Thấy mốc trắng, mốc xanh, mùi chua khó chịu thì không cho vật nuôi ăn và không trồng nấm.
Tro rơm có phải là phân bón tốt không?
Tro có kali và một ít khoáng, rắc lên đất có ích, nhưng phần lớn đạm, lưu huỳnh và toàn bộ chất hữu cơ đã mất khi đốt. Nếu nhà có tro bếp từ đun rơm, trộn vào đống ủ hoặc rắc gốc cây là hợp lý; còn đốt rơm ngoài đồng để lấy tro là cách dùng kém hiệu quả.