Đốn chè là cắt bớt phần tán của cây chè để điều chỉnh độ cao, kích thích cây ra búp mới và kéo dài tuổi khai thác của đồi chè. Ở trung du và miền núi phía Bắc, chè thường được đốn vào cuối năm đến đầu năm sau, khi trời lạnh, cây gần như ngừng ra búp. Kiểu đốn chọn theo tuổi và tình trạng đồi chè: đốn tạo hình cho chè non, đốn phớt hằng năm cho chè kinh doanh, đốn lửng hoặc đốn đau khi tán đã cao, già, ra búp kém, và đốn trẻ lại cho nương chè rất già.
Bài này giải thích đốn để làm gì, từng kiểu đốn khác nhau ra sao, độ cao vết đốn tham khảo, thời điểm đốn ở các vùng, chăm chè sau đốn và mối liên hệ giữa đốn với hái. Các độ cao nêu theo các hướng dẫn kỹ thuật phổ biến cho chè trung du, chỉ là tham khảo, tuỳ giống, tuổi cây và tập quán từng vùng. Chè Shan cổ thụ trên núi cao có cách khai thác riêng, không đốn như chè đồi.
Đốn chè để làm gì
Cây chè nếu để tự nhiên sẽ lớn thành cây bụi cao hoặc cây gỗ nhỏ, búp mọc thưa trên tán cao, khó hái. Trong canh tác, người trồng muốn cây chè có tán rộng, thấp, mặt tán bằng, nhiều búp đều trên một mặt phẳng để hái nhanh và đều. Đốn là công cụ chính để tạo và giữ hình dạng ấy.
Đốn cũng là cách làm trẻ lại cây. Mỗi năm cây chè được hái nhiều lứa, mặt tán dần cao lên, cành nhỏ đi, nhiều mắt cua dày, búp nhỏ và mù xoè (búp không có tôm, lá non mở hết). Đốn cắt bỏ phần cành già, nhỏ trên mặt tán để cây ra lớp cành mới khỏe hơn, búp to và mập hơn.
Ngoài ra, đốn vào mùa đông giúp cây nghỉ ngơi đúng lúc thời tiết lạnh, ra lứa búp xuân đồng loạt; đốn kết hợp vệ sinh nương chè, cắt bỏ cành sâu bệnh, giảm nguồn sâu bệnh qua đông. Cành lá đốn rơi xuống giữa hàng trở thành lớp tủ và nguồn hữu cơ.
Các kiểu đốn và khi nào dùng
Mỗi kiểu đốn cắt ở độ cao khác nhau, áp dụng cho một tình trạng nương chè. Độ cao trong bảng là tham khảo theo hướng dẫn phổ biến cho chè đồi:
| Kiểu đốn | Áp dụng khi | Độ cao vết đốn (tham khảo) | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đốn tạo hình | Chè non mới trồng, chưa có tán | Thấp, nâng dần qua các lần đốn trong vài năm đầu | Tạo khung cành, tán rộng |
| Đốn phớt | Chè kinh doanh, hằng năm | Cao hơn vết đốn năm trước vài cm | Giữ mặt tán bằng, cắt lớp cành nhỏ |
| Đốn lửng | Tán đã quá cao, búp nhỏ, năng suất giảm | Khoảng 60–65 cm so với mặt đất | Cây cần một hai năm phục hồi |
| Đốn đau | Chè già, cành nhiều mắt cua, kém hơn mức đốn lửng | Khoảng 40–45 cm | Phục hồi lâu hơn đốn lửng |
| Đốn trẻ lại | Chè rất già, cằn cỗi, nhiều cành chết | Thấp, sát gần gốc | Gần như tạo hình lại từ đầu |
Các độ cao có thể chênh tuỳ giống, đất và tập quán. Điều quan trọng là hiểu logic: càng đốn thấp, cây càng được làm trẻ mạnh, nhưng càng mất thời gian phục hồi và càng cần dinh dưỡng, nước đầy đủ. Không nên đốn đau một nương chè yếu, thiếu phân, đất cằn.
Đọc nương chè trước khi chọn kiểu đốn
Trước mùa đốn, nên đi một vòng nương chè và trả lời vài câu hỏi đơn giản. Câu trả lời sẽ chỉ ra kiểu đốn phù hợp cho từng lô:
- Mặt tán cao tới đâu? Tán đã vượt quá tầm hái thoải mái của người đứng (ngang bụng, ngang ngực) là dấu hiệu cần đốn thấp hơn mức đốn phớt bình thường.
- Cành trên mặt tán ra sao? Cành nhỏ như tăm, nhiều mắt cua sít nhau, búp nhỏ và mù xoè nhiều cho thấy lớp cành đã già.
- Thân và cành dưới có khoẻ không? Thân có nhiều rêu, địa y, cành khô, gốc mục là nương yếu, cần bồi dưỡng trước khi đốn mạnh.
- Năng suất mấy năm qua? Nếu chăm bón như cũ mà sản lượng giảm liên tục, đốn lửng có thể là bước tiếp theo.
- Đất và dinh dưỡng có đủ không? Đất cằn, xói mòn, nhiều năm không bón hữu cơ thì nên cải tạo một mùa rồi mới đốn mạnh.
Không nhất thiết cả nương chè đốn cùng một kiểu. Những lô già, tán cao có thể đốn lửng trong khi lô bên cạnh chỉ đốn phớt; như vậy vừa làm trẻ nương chè dần dần, vừa không mất sản lượng cả nương cùng một năm.
Đốn tạo hình cho chè non
Chè trồng bằng cành giâm hoặc hạt, những năm đầu được đốn tạo hình để có bộ khung cành tốt. Trình tự phổ biến:
- Lần đầu thường khi cây đạt độ tuổi và độ cao theo hướng dẫn, thân đã hoá gỗ phía dưới; đốn thân chính ở độ cao thấp, giữ lại các cành bên.
- Năm sau, đốn lần hai cao hơn lần đầu, cắt các cành cấp một để kích thích cành cấp hai, cấp ba mọc ra.
- Năm tiếp theo, đốn lần ba cao hơn nữa, bắt đầu tạo mặt tán bằng phẳng.
- Sau các lần đốn tạo hình, chè bước vào giai đoạn kinh doanh, chuyển sang đốn phớt hằng năm.
- Giữa các lần đốn, hái nhẹ, hái chừa nhiều lá để cây phát triển tán, không hái tận như chè kinh doanh.
Dùng dao sắc hoặc kéo, vết cắt vát, gọn, không dập cành. Đốn tạo hình làm vội, cắt quá cao hay quá thấp ở lần đầu đều khiến khung tán lệch, sau này khó chỉnh.
Thời điểm đốn ở các vùng chè
Ở trung du và miền núi phía Bắc, gồm các vùng chè lâu đời của Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La sau sáp nhập, chè thường đốn trong khoảng cuối tháng mười hai đến cuối tháng một, khi trời lạnh, cây sinh trưởng chậm, nhựa luân chuyển yếu. Đốn vào lúc này, vết cắt ít chảy nhựa, cây nghỉ qua đông rồi bật mầm khi xuân ấm. Nên tránh đốn khi đang có đợt rét đậm, sương muối, vì vết đốn non bị hại; chờ đợt rét qua rồi làm.
Đốn lửng, đốn đau thường được làm sớm hơn đốn phớt một chút để cây có thời gian phục hồi. Ở vùng thấp ấm hơn, thời điểm có thể sớm hơn; ở vùng cao lạnh, có nơi lùi lại cho tới khi hết nguy cơ sương muối.
Ở Lâm Đồng, chè trồng trên cao nguyên có khí hậu mát quanh năm, mùa khô và mùa mưa rõ, nên lịch đốn thường gắn với mùa khô và lịch hái của từng vùng, khác hẳn miền Bắc. Bà con nên theo lịch thời vụ của khuyến nông địa phương hoặc các cơ sở chè lâu năm trong vùng.
Chăm chè sau đốn
Sau đốn, cây chè cần dinh dưỡng và nước để ra lứa cành, búp mới. Đây là lúc bón phân hữu cơ hoai kết hợp vùi cành lá đốn vào rãnh giữa hàng hoặc để nguyên làm lớp tủ. Lớp tủ giữ ẩm trong mùa khô hanh đầu năm ở miền Bắc, giảm cỏ dại và trả lại chất hữu cơ cho đất. Phân vô cơ bón theo lịch khi cây bắt đầu bật mầm; lượng và tỷ lệ nên dựa vào phân tích đất và hướng dẫn kỹ thuật.
Nương chè đốn lửng, đốn đau cần chăm kỹ hơn: bổ sung hữu cơ nhiều hơn, làm cỏ, xới nhẹ, giữ ẩm. Cây sau đốn đau thường phải nuôi tán một thời gian, hái nhẹ, hái chừa nhiều lá, có khi để một vụ không hái để cây hồi phục.
Sau đốn cũng là lúc dễ quan sát thân, cành, gốc chè. Những cây chết, gốc mục có thể trồng dặm; cành bị sâu đục, cành có rêu mốc nhiều cắt bỏ. Thân chè có địa y, rêu bám dày thường là dấu hiệu nương ẩm, ít nắng, có thể cần tỉa thưa cây che bóng.
Hái chè đúng cách để giữ tán sau đốn
Hái một tôm hai lá. Tiêu chuẩn hái phổ biến cho chè chất lượng là một tôm (búp đỉnh chưa xoè) kèm hai lá non. Hái đúng giúp búp sau mọc đều, nguyên liệu chè tốt hơn.
Hái chừa. Khi hái, để lại một hoặc vài lá trên cành mới (gọi là hái chừa) để cây có lá quang hợp nuôi búp tiếp theo. Số lá chừa phụ thuộc giai đoạn: sau đốn, chè non, chè yếu cần chừa nhiều; chè kinh doanh khoẻ chừa ít hơn. Hái tận không chừa lá làm cây kiệt dần.
Giữ mặt tán bằng. Hái đều trên mặt tán, búp vượt cao hái trước, giữ mặt tán bằng phẳng. Tán lồi lõm thì lứa sau búp không đều.
Hái đúng lứa. Hái khi búp đủ tiêu chuẩn, không để búp già mới hái. Khoảng cách giữa các lứa phụ thuộc mùa: mùa xuân hè búp ra nhanh, lứa dày; mùa thu đông chậm hơn.
Hái máy và hái tay. Hái bằng máy nhanh nhưng lẫn nhiều lá già, cần mặt tán rất bằng và tán chè được đốn phù hợp. Nhiều nương chè kết hợp hái máy vụ chính và hái tay khi cần nguyên liệu chất lượng cao.
Đốn tay, đốn máy và an toàn khi làm
Đốn tay bằng dao hoặc kéo đốn cho vết cắt chính xác, chọn được cành cần giữ, cành cần bỏ, phù hợp với đốn tạo hình, đốn lửng, đốn đau và nương chè nhỏ. Đốn bằng máy cắt mặt tán nhanh, đều, phù hợp với đốn phớt trên diện tích lớn, mặt tán đã bằng. Nhiều nơi kết hợp: máy đốn phớt mặt tán, sau đó người làm sửa lại những cành to, cành sâu bệnh bằng dao.
Dù dùng cách nào, dụng cụ phải sắc để vết cắt gọn. Máy đốn có lưỡi cắt quay hoặc dao kép chuyển động nhanh, cần đeo kính bảo vệ mắt, găng tay, giày chắc chân, không đứng đối diện người đang vận hành máy. Đồi chè dốc, đất trơn sau sương, nên đi chậm và chắc. Cành chè đốn có thể bắn vào mặt, đeo kính là thói quen nên có ngay cả khi đốn tay.
Những sai lầm khi đốn chè
Sai lầm thường gặp nhất là đốn sai độ cao: đốn phớt quá thấp làm cây mất nhiều lá, phục hồi chậm; hoặc năm này qua năm khác chỉ đốn rất nhẹ, mặt tán vượt quá tầm tay người hái, cành nhỏ dày đặc, búp nhỏ và mù xoè nhiều.
Sai lầm thứ hai là đốn đau, đốn lửng một nương chè đang yếu, thiếu dinh dưỡng, đất cằn. Cây không đủ sức bật mầm sau đốn, nhiều gốc chết. Trước khi đốn mạnh, cần bồi dưỡng đất, bón hữu cơ trước ít nhất một mùa.
Sai lầm thứ ba là dùng dao cùn, chém dập cành, vết cắt bị xé; hoặc đốn khi trời mưa, sương muối. Cuối cùng là sau đốn bỏ mặc, không bón, không giữ ẩm, rồi lại hái tận ngay lứa đầu. Đốn chỉ là một nửa câu chuyện, nửa còn lại là nuôi cây sau đốn và hái hợp lý.
Câu hỏi thường gặp
Bao lâu thì đốn lửng chè một lần?
Không có chu kỳ cố định. Khi mặt tán chè đã quá cao, cành nhỏ và nhiều mắt cua, búp nhỏ, năng suất giảm rõ dù đã chăm bón, thì cân nhắc đốn lửng. Nhiều nương chè kinh doanh đốn phớt nhiều năm liền rồi mới đốn lửng một lần.
Đốn chè xong bao lâu thì hái được?
Sau đốn phớt vào mùa đông, chè thường cho lứa búp xuân khi thời tiết ấm lên, sau khoảng vài tháng. Sau đốn lửng, đốn đau, cây cần thời gian dài hơn để nuôi tán, lứa đầu nên hái nhẹ, hái chừa nhiều lá. Thời gian cụ thể tuỳ thời tiết và chăm sóc.
Cành lá chè đốn xong có nên mang ra khỏi nương không?
Cành lá khoẻ nên để lại giữa hàng làm lớp tủ, hoặc vùi vào rãnh, vì đây là nguồn hữu cơ và giúp giữ ẩm. Chỉ những cành bị sâu bệnh nặng mới cần mang ra khỏi nương để xử lý riêng, tránh lây lan.
Chè Shan tuyết cổ thụ có đốn không?
Chè Shan cổ thụ trên núi cao thường được thu hái theo cách riêng, ít khi đốn như chè đồi, vì cây lớn, sống lâu năm và giá trị nằm ở cây cổ. Một số vùng có tỉa nhẹ cành khô, cành sâu bệnh. Nên theo tập quán và hướng dẫn bảo tồn của địa phương.
Đốn chè có cần bôi gì lên vết cắt không?
Với đốn phớt, vết cắt nhỏ và nhiều, thường không bôi gì; điều quan trọng là dao sắc, vết cắt gọn và đốn vào lúc thời tiết khô ráo. Với đốn đau, đốn trẻ lại có vết cắt lớn, một số nơi bôi chất bảo vệ vết cắt theo hướng dẫn kỹ thuật địa phương.