TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Lúa từ gieo tới gặt

Dấu hiệu lúa chín để gặt: nhìn bông, bóc hạt và chọn ngày gặt cho ít hao hụt

Lúa nên gặt khi khoảng 85–90% hạt trên bông đã chín vàng. Cách kiểm tra độ chín ngoài ruộng, vì sao gặt sớm hay gặt muộn đều thiệt, và chuẩn bị ruộng trước khi máy xuống.

Close-up of a farmer hand bending a golden ripe rice panicle to inspect the grains, a few green grains at the base, harvested field and combine harvester blurred far behind, warm afternoon

Lúa đã đến lúc gặt khi khoảng 85–90% số hạt trên bông đã chuyển sang màu vàng rơm, chỉ còn vài hạt ở phần gốc bông hơi xanh; cổ bông đã ngả vàng, bông cong gục xuống; bóc hạt thấy gạo trong, cứng, bấm móng tay không còn dịch. Với phần lớn giống lúa, thời điểm này rơi vào khoảng một tháng sau khi lúa trổ đều, chênh vài ngày tuỳ giống, thời tiết và vụ.

Gặt sớm hơn thì hạt lửng, nhiều hạt xanh, gạo dễ gãy khi xay; gặt muộn hơn thì hạt rụng, lúa đổ, hạt nứt do nắng mưa xen kẽ. Bài này hướng dẫn cách kiểm tra độ chín ngay ngoài ruộng, chọn ngày gặt theo thời tiết và chuẩn bị ruộng cho gặt máy hay gặt tay. Phần phơi, sấy, bảo quản sau gặt thuộc mảng sau thu hoạch, ở đây dừng ở lúc lúa rời khỏi ruộng.

Các giai đoạn chín của hạt lúa

Sau khi hoa lúa thụ phấn, hạt trải qua các giai đoạn chín nối nhau. Biết đang ở giai đoạn nào giúp ước lượng còn bao nhiêu ngày tới gặt:

  • Chín sữa: khoảng tuần đầu tới tuần thứ hai sau trổ. Bóp hạt thấy dịch trắng như sữa chảy ra. Bông còn xanh, đứng thẳng hoặc hơi cong. Đây là lúc hạt tích luỹ tinh bột nhanh nhất, cần nước và bộ lá khoẻ.
  • Chín sáp: khoảng tuần thứ hai tới tuần thứ ba. Dịch trong hạt đặc lại như sáp, bấm móng tay vào hạt thấy mềm, dẻo. Hạt bắt đầu chuyển vàng từ ngọn bông xuống, bông cong gục dần.
  • Chín vàng: khoảng tuần thứ ba tới tuần thứ tư hoặc hơn. Phần lớn hạt vàng, gạo cứng, trong. Đây là giai đoạn nên gặt, khi tỷ lệ hạt vàng trên bông khoảng 85–90%.
  • Chín hoàn toàn: hạt khô cứng, vỏ trấu vàng sẫm, cả lá và thân cũng khô. Để tới giai đoạn này mới gặt là đã muộn, hạt dễ rụng, gạo dễ nứt.

Thời gian của mỗi giai đoạn thay đổi theo nhiệt độ: vụ nóng chín nhanh hơn, vụ lạnh chín chậm hơn. Giống ngắn ngày ở Nam Bộ thường từ trổ tới gặt khoảng gần một tháng; vụ xuân ở miền Bắc có thể lâu hơn một chút. Vì vậy nên ghi lại ngày lúa trổ đều trên ruộng để có mốc tính.

Lúa trên cùng một bông không chín cùng lúc: hạt ở ngọn bông chín trước, hạt ở gốc bông chín sau. Đó là lý do người ta không đợi hạt ở gốc bông vàng hết mới gặt.

Kiểm tra độ chín ngoài ruộng trong mười lăm phút

Không cần dụng cụ đặc biệt. Đi ruộng vào buổi sáng khi sương đã tan, làm theo các bước sau:

  1. Chọn vài điểm đại diện trong ruộng, tránh đầu bờ và chỗ trũng vì lúa ở đó thường chín lệch. Thửa lớn nên chọn năm điểm theo đường chéo.
  2. Ở mỗi điểm, lấy vài bông ở các khóm khác nhau, đếm sơ hạt vàng và hạt xanh trên bông. Khi trung bình chỉ còn khoảng một phần mười hạt xanh, tập trung ở gốc bông, là lúa đã gần tới lúc gặt.
  3. Bóc vài hạt ở giữa bông, dùng răng hoặc móng tay bóc vỏ trấu. Gạo trong, cứng, cắn thấy giòn là đã chín vàng; gạo còn đục, mềm, có dịch là còn chín sáp.
  4. Nhìn cổ bông, đoạn thân ngay dưới bông. Cổ bông chuyển vàng là dấu hiệu tốt; nếu cổ bông còn xanh đậm trong khi hạt đã vàng, có thể hạt vàng do bệnh hoặc do thời tiết chứ chưa chín thật.
  5. Nhìn tổng thể ruộng từ trên bờ: màu vàng đều hay loang lổ. Ruộng chín không đều thì quyết định theo phần lớn diện tích, hoặc chia ruộng gặt hai đợt nếu chênh nhiều.
  6. Ghi lại ngày dự kiến gặt và báo trước cho chủ máy gặt hay người gặt thuê, vì vào mùa gặt rộ máy thường kín lịch.

Một số nơi dùng thêm máy đo độ ẩm hạt cầm tay để quyết định ngày gặt. Lúa gặt ở độ ẩm hạt khoảng 20–25% thường được xem là phù hợp cho gặt máy và sấy, nhưng đây là mức tham khảo; trên ruộng, các dấu hiệu nhìn và bóc hạt ở trên đã đủ cho phần lớn nông hộ.

Gặt sớm, gặt đúng lúc và gặt muộn khác nhau thế nào

Chênh lệch vài ngày quanh thời điểm chín vàng đã ảnh hưởng tới lượng thóc và chất lượng gạo. Bảng dưới tóm tắt:

Gặt sớmGặt đúng lúcGặt muộn
Hạt trên bôngNhiều hạt xanh, hạt lửngPhần lớn vàng, vài hạt gốc bông hơi xanhHạt khô cứng, dễ rụng
Khối lượng thócNhẹ cân vì hạt chưa vào chắc đủĐủ chắcHao hụt do rụng hạt, chim chuột
Chất lượng gạoGạo xanh, bạc bụng, nhiều tấm khi xayGạo trong, tỷ lệ gạo nguyên caoHạt dễ nứt do nắng mưa xen kẽ, gạo gãy nhiều
Rủi ro ngoài đồngÍtThấpLúa đổ, nảy mầm trên bông nếu gặp mưa
Gặt máyMáy đập không sạch, lẫn nhiều hạt xanhThuận lợiRơi rụng nhiều ở đầu máy, gãy cổ bông

Hạt lúa chín quá để ngoài ruộng gặp nắng gắt ban ngày rồi sương, mưa ban đêm sẽ hút ẩm và nhả ẩm liên tục, sinh ra các vết nứt nhỏ trong hạt gạo. Khi xay, những hạt này gãy thành tấm, làm giảm giá trị gạo dù khối lượng thóc vẫn đủ.

Ngược lại, gặt quá sớm để tránh rủi ro cũng không phải cách hay: phần hạt chưa chắc mất hẳn, không bù lại được bằng phơi sấy.

Chọn ngày gặt theo thời tiết và lịch máy

Khi lúa đã gần chín vàng, thời tiết là yếu tố quyết định ngày gặt. Theo dõi bản tin dự báo trong mười ngày tới: nếu có đợt mưa lớn, áp thấp, bão sắp đến mà lúa đã chín khoảng 80% trở lên, nhiều nơi khuyến cáo gặt chạy để tránh mất trắng. Mất một ít do gặt hơi sớm vẫn tốt hơn lúa đổ ngâm nước nảy mầm. Ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vụ hè thu thường phải tính toán sớm để gặt trước mùa mưa bão.

Trời nắng ráo là thuận lợi nhất cho gặt, nhất là khi không có máy sấy và phải phơi. Tránh gặt ngay sau mưa khi bông còn ướt, máy đập không sạch, thóc ẩm dễ nóng bao. Buổi sáng nên chờ sương tan mới gặt.

Ở vùng gặt máy, lịch máy cũng là ràng buộc thực tế. Vào mùa gặt rộ, cả cánh đồng chín cùng lúc, máy không đủ. Đặt lịch với chủ máy từ khi lúa trổ đều, báo lại khi kiểm tra thấy lúa sắp chín. Ở nơi gieo sạ đồng loạt, hợp tác xã thường điều phối máy theo khu, giúp các hộ không phải tranh nhau.

Ruộng làm giống để vụ sau thì yêu cầu khác lúa thương phẩm một chút: gặt khi hạt đã chín vàng đầy đủ, chọn ngày nắng ráo, gặt riêng và tránh để lẫn với thóc ruộng khác, kể cả lẫn qua máy gặt. Nếu thuê máy, nên đề nghị máy làm sạch thùng chứa hoặc gặt ruộng giống trước trong ngày. Vài bao giống lẫn hạt lúa cỏ có thể làm hỏng cả mấy vụ sau.

Nếu ruộng có phần bị đổ, nên đề nghị gặt phần đổ trước hoặc báo chủ máy để chỉnh tốc độ, độ cao cắt. Lúa đổ gặt chậm hơn và hao hụt nhiều hơn; để lâu thì càng thiệt.

Chuẩn bị ruộng trước khi gặt

Rút nước đúng lúc. Rút cạn ruộng khoảng một tuần tới mười ngày trước ngày gặt dự kiến để mặt ruộng cứng, lúa chín đều. Ruộng bùn sâu cần rút sớm hơn. Đây là mốc cuối của lịch nước trọn vụ.

Dọn đường cho máy vào. Kiểm tra lối máy gặt đi từ đường vào ruộng, chỗ bờ thấp hay mương cần lấp tạm. Báo chủ máy những chỗ trũng, chỗ lầy, chỗ có cọc, đá để tránh sa lầy và hỏng máy.

Thoả thuận trước với người gặt. Thống nhất cách tính công, cách đo lúa rơi, xử lý rơm sau gặt (cuộn rơm, rải đều hay để thành hàng). Phần đo hao hụt và thoả thuận dịch vụ gặt thuê có hướng dẫn chi tiết ở mảng máy móc và dịch vụ nông nghiệp.

Chuẩn bị bao, bạt và phương tiện chở. Thóc gặt máy ra rất nhanh, cần đủ bao và người chở để thóc không phải để lâu ngoài ruộng dưới nắng hay mưa. Thóc ướt để đống lâu dễ bị nóng, mốc, giảm chất lượng.

Gặt tay thì gặt theo lượt. Ở ruộng nhỏ, ruộng bậc thang, gặt tay vẫn phổ biến. Gặt xong nên tuốt sớm, không để lúa bó phơi ngoài ruộng nhiều ngày gặp mưa.

Tính trước việc dùng rơm rạ. Rơm có thể cuộn lại làm thức ăn cho trâu bò, trồng nấm rơm, che phủ vườn, hoặc vùi lại ruộng. Không đốt rơm. Cách đưa rơm vào vòng tuần hoàn của nông hộ có bài riêng ở danh mục nông nghiệp tuần hoàn.

Ghi chép sau gặt để vụ sau tốt hơn

Khi lúa đã rời khỏi ruộng, vài dòng ghi chép tốn chưa đầy mười phút nhưng có giá trị cho nhiều vụ sau. Ghi ngày gieo, ngày trổ đều, ngày gặt để biết thực tế thời gian sinh trưởng của giống trên ruộng nhà mình, vốn có thể khác với con số trên bao giống. Ghi những chỗ lúa chín sớm, chín muộn, chỗ đổ, chỗ nhiều hạt lép, chỗ cỏ hay lúa cỏ còn sót.

Nếu gặt máy, ghi thêm tên chủ máy, ngày giờ máy xuống, tình trạng mặt ruộng lúc đó và ước lượng lúa rơi ở vài điểm sau khi máy đi qua. So sánh qua các vụ sẽ thấy chủ máy nào làm kỹ, mặt ruộng cứng tới đâu thì máy chạy tốt, rút nước sớm hay muộn thì hợp với ruộng nhà mình.

Những ghi chép đó trả lời các câu hỏi của vụ sau: chỗ nào cần san lại mặt ruộng, chỗ nào nên giảm mật độ, chỗ nào có vấn đề phèn hay nước, giống này có hợp không. Ruộng lúa của mỗi nhà có tính cách riêng; người hiểu ruộng mình nhất là người ghi chép ruộng mình qua nhiều vụ.

Nếu thấy năng suất hay chất lượng bất thường mà không rõ nguyên nhân, mang ghi chép cùng vài bông lúa đến hỏi cán bộ khuyến nông hoặc trao đổi trong lớp học hiện trường nông dân của địa phương. Nhìn lại một vụ lúa từ đầu tới cuối, từ chọn giống, làm đất, nước, cỏ, ốc tới lúc gặt, chính là cách các bài trong danh mục này nối với nhau thành một quy trình trọn vụ.

Câu hỏi thường gặp

Lúa trổ bao nhiêu ngày thì gặt?

Với phần lớn giống, khoảng một tháng sau khi lúa trổ đều, chênh vài ngày tuỳ giống, nhiệt độ và vụ. Vụ nóng chín nhanh hơn, vụ lạnh chậm hơn. Nên ghi ngày trổ đều và kiểm tra độ chín ngoài ruộng thay vì chỉ đếm ngày.

Vì sao lúa gặt muộn gạo lại hay gãy?

Hạt lúa chín quá để ngoài ruộng gặp nắng ban ngày, sương mưa ban đêm sẽ hút và nhả ẩm liên tục, tạo vết nứt nhỏ trong hạt. Khi xay, hạt nứt gãy thành tấm. Gặt đúng lúc chín vàng giúp giữ tỷ lệ gạo nguyên cao.

Có nên gặt sớm khi sắp có bão?

Nếu lúa đã chín khoảng 80% trở lên và dự báo có mưa lớn, bão sắp tới, nhiều địa phương khuyến cáo gặt sớm để tránh lúa đổ, ngâm nước, nảy mầm. Hao hụt do gặt hơi sớm thường nhỏ hơn nhiều so với mất mùa. Theo dõi khuyến cáo của địa phương trong mùa mưa bão.

Hạt lúa vàng nhưng cổ bông còn xanh có phải đã chín?

Chưa chắc. Bình thường cổ bông chuyển vàng khi lúa chín. Nếu hạt vàng mà cổ bông còn xanh đậm, cần bóc hạt kiểm tra: hạt có thể vàng do bệnh, do thời tiết hoặc chỉ là vỏ trấu đổi màu, trong khi gạo bên trong còn non. Kiểm tra ở nhiều điểm trong ruộng.

Rút nước trước gặt bao lâu là đủ?

Thường khoảng một tuần tới mười ngày trước ngày gặt dự kiến. Ruộng bùn sâu, đất thịt nặng nên rút sớm hơn để máy gặt không sa lầy. Rút quá sớm khi hạt đang vào chắc có thể làm hạt lửng; rút quá muộn thì ruộng lầy, khó gặt.

Ruộng chín không đều thì gặt thế nào?

Quyết định theo phần lớn diện tích, hoặc chia gặt hai đợt nếu chênh lệch nhiều, ví dụ phần ruộng trũng chín muộn. Ghi lại chỗ chín lệch để vụ sau tìm nguyên nhân như mặt ruộng không phẳng, gieo không đều hay đất khác nhau giữa các chỗ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68