TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Lúa từ gieo tới gặt

Chăm lúa từ đẻ nhánh tới trổ bông: đọc cây theo từng giai đoạn và giữ lúa khỏi đổ ngã

Đẻ nhánh cần nước nông và sạch cỏ, làm đòng cần nước và lá đòng khoẻ, trổ cần để ruộng yên. Dấu hiệu từng giai đoạn của cây lúa và cách phòng đổ ngã.

Wide view of a rice field at heading stage with fresh green panicles emerging, a farmer seen from behind walking along the bund inspecting plants, gentle morning light, central Vietnam plain

Từ lúc đẻ nhánh tới khi trổ bông, cây lúa đi qua ba chặng với ba yêu cầu khác nhau. Giai đoạn đẻ nhánh cần nước nông, ruộng sạch cỏ và đủ dinh dưỡng để ra nhánh sớm. Giai đoạn làm đòng, kéo dài khoảng một tháng trước trổ, cần nước liên tục và bộ lá, nhất là lá đòng, xanh khoẻ. Giai đoạn trổ và phơi màu cần thời tiết thuận và tránh mọi tác động làm hỏng hoa lúa. Đổ ngã là rủi ro xuyên suốt, được quyết định phần lớn từ cách chăm ở giai đoạn đẻ nhánh.

Bài này viết theo cách "nhìn cây biết việc": ở mỗi giai đoạn, cây lúa trông như thế nào, việc gì nên làm, việc gì nên tránh. Phần lượng phân, số lần bón cụ thể theo giống và vùng có hướng dẫn riêng ở mảng phân bón; ở đây chỉ nêu cây cần gì và vì sao.

Ba giai đoạn lớn của cây lúa và vì sao giống dài ngày khác giống ngắn ngày

Đời cây lúa thường được chia làm ba giai đoạn lớn. Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, từ nảy mầm tới cuối đẻ nhánh, là lúc cây ra lá, ra rễ và đẻ nhánh. Giai đoạn sinh trưởng sinh thực, từ khi bắt đầu phân hoá đòng tới trổ bông và nở hoa. Giai đoạn chín, từ sau nở hoa tới khi hạt chín hoàn toàn.

Điểm đáng nhớ là hai giai đoạn sau có độ dài tương đối ổn định giữa các giống, mỗi giai đoạn khoảng một tháng, chênh lệch vài ngày tuỳ giống và nhiệt độ. Sự khác nhau giữa giống ngắn ngày và dài ngày nằm chủ yếu ở giai đoạn sinh dưỡng. Vì vậy với giống ngắn ngày ở Nam Bộ, đẻ nhánh và làm đòng gần như nối liền, thậm chí chồng lấn một chút; còn với giống dài ngày ở vụ xuân miền Bắc, giữa cuối đẻ nhánh và làm đòng có một khoảng rõ hơn.

Hiểu điều này giúp đặt lịch chăm sóc đúng. Với giống ngắn ngày, mọi việc ở giai đoạn đẻ nhánh phải làm sớm và gọn, vì cây không có nhiều thời gian để bù. Với giống dài ngày, cần tránh để lúa đẻ quá nhiều nhánh muộn, gây rậm rạp và đổ ngã về sau. Cách tốt nhất để biết lúa đang ở giai đoạn nào là bóc dảnh xem đòng, kết hợp với thông tin thời gian sinh trưởng của giống.

Nhìn cây biết việc: dấu hiệu và việc làm theo giai đoạn

Bảng dưới gom những gì bà con thấy trên ruộng và việc nên làm tương ứng. Các mốc thời gian là tham khảo, tuỳ giống và vụ:

Giai đoạnTrên ruộng thấy gìNên làmNên tránh
Đẻ nhánhKhóm lúa to dần, nhánh mới mọc từ nách lá gốcNước nông, làm cỏ, dặm chỗ trống, theo dõi màu láNgập sâu, để cỏ lấn, bón dồn quá nhiều đạm
Cuối đẻ nhánhĐủ số dảnh, ruộng bắt đầu khép hàngPhơi ruộng nếu đủ dảnhPhơi khi đã thấy đòng
Làm đòngBóc dảnh thấy đòng non; bẹ lá phồng dầnGiữ nước liên tục, thăm đồng sâu bệnh trên lá đòngĐể ruộng khô, gây tổn thương lá
Trổ, phơi màuBông thoát khỏi bẹ lá đòng, hoa nở buổi sángGiữ nước, để ruộng yênPhun thuốc lúc hoa đang nở, đi lại nhiều
Chín sữa, chín sápHạt có dịch trắng như sữa, rồi đặc dầnNước nông, theo dõi đổ ngã và chim chuộtRút cạn quá sớm

Màu lá là chỉ báo dễ quan sát nhất về tình trạng dinh dưỡng đạm. Nhiều địa phương dùng bảng so màu lá, là một tấm nhựa có các ô xanh từ nhạt đến đậm, để so với lá lúa thứ nhất tính từ ngọn xuống và quyết định có cần bón thêm hay không. Cách làm này giúp tránh bón thừa, một nguyên nhân chính của đổ ngã và sâu bệnh.

Giai đoạn đẻ nhánh: ra nhánh sớm, đều, đủ thì dừng

Nhánh đẻ sớm, mọc ở các mắt gốc thấp, thường là nhánh hữu hiệu, tức là sau này trổ được bông có hạt chắc. Nhánh đẻ muộn ở các mắt cao, khi cây đã lớn, thường là nhánh vô hiệu: hoặc không trổ, hoặc bông rất nhỏ. Vì vậy mục tiêu của giai đoạn này không phải là thật nhiều nhánh, mà là nhánh ra sớm, đều, và dừng khi đủ.

Muốn lúa đẻ sớm, cần ba điều kiện: mạ khoẻ, cấy nông hoặc sạ đúng mật độ; nước nông để gốc lúa nhận đủ ánh sáng và nhiệt; và đủ dinh dưỡng vào đúng lúc lúa bắt đầu đẻ. Ruộng ngập sâu, cấy sâu, hay cỏ lấn át gốc lúa đều làm chậm đẻ nhánh. Ruộng sạ quá dày lại làm các cây tranh nhau, mỗi cây đẻ ít, thân nhỏ yếu.

Trong giai đoạn này, việc chính là làm cỏ hoặc kiểm soát cỏ, dặm lại chỗ mất khóm, và đi thăm đồng định kỳ để phát hiện sớm sâu cuốn lá, rầy, ốc. Lúa đẻ nhánh có khả năng đền bù khá tốt: một mức hại lá nhất định ở giai đoạn này thường không ảnh hưởng nhiều tới năng suất, nên không vội phun thuốc khi thấy vài lá bị cuốn. Đây là nội dung quen thuộc của quản lý dịch hại tổng hợp, được bàn kỹ ở danh mục IPM.

Khi đếm thấy đủ số dảnh, phơi ruộng hoặc hạ nước để hãm nhánh muộn, như đã nói ở bài về lịch nước. Ruộng không phơi được, ví dụ ruộng phèn, thì hạn chế bón thêm đạm ở cuối giai đoạn này để lúa không tiếp tục đẻ.

Giai đoạn làm đòng: nuôi bông từ trong bẹ

Khi lúa bắt đầu làm đòng, số hạt trên bông được quyết định dần qua từng bước phân hoá. Thiếu nước, thiếu dinh dưỡng hoặc gặp thời tiết bất lợi ở giai đoạn này làm bông ngắn, ít hạt, nhiều hoa thoái hoá. Đây là lý do giai đoạn này phải giữ nước liên tục và thường có một lần bón đón đòng hoặc nuôi đòng theo hướng dẫn cho giống, nếu màu lá cho thấy cây cần.

Lá đòng là lá cuối cùng, mọc ngay dưới bông. Lá đòng cùng hai, ba lá ngay dưới nó là những lá quang hợp chính nuôi hạt sau này. Vì vậy từ khi lá đòng xuất hiện, việc giữ bộ lá này xanh, sạch sâu bệnh có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với giai đoạn đẻ nhánh. Bệnh trên lá đòng, cổ bông, hay sâu hại lá đòng cần được theo dõi kỹ hơn; khi thấy dấu hiệu, nên báo cán bộ bảo vệ thực vật để được hướng dẫn theo ngưỡng.

Một dấu hiệu dễ thấy là bẹ lá đòng phồng lên dần, người ta gọi là lúa "có đòng" hay "ôm đòng". Đi trong ruộng giai đoạn này nên nhẹ nhàng, tránh dẫm đạp, làm gãy dảnh. Ruộng đã khép tán, đi lại nhiều còn tạo lối cho chuột.

Ở Nam Bộ, giống ngắn ngày thường bắt đầu làm đòng chỉ khoảng sáu, bảy tuần sau sạ, có khi sớm hơn. Bà con quen đếm ngày sau sạ để đoán, nhưng bóc dảnh xem tận mắt vẫn chắc hơn, nhất là khi vụ đó gieo muộn hoặc trời lạnh bất thường làm lúa chậm lại.

Ở miền Bắc, vụ xuân thường làm đòng vào lúc trời ấm dần, nhưng có năm gặp rét muộn. Rét vào giai đoạn phân hoá hạt phấn có thể làm hạt lép nhiều dù lúa vẫn trổ bình thường. Giữ nước sâu hơn trong những ngày rét giúp giảm phần nào ảnh hưởng.

Giai đoạn trổ và phơi màu: những việc phải tránh

Lúa trổ thường kéo dài khoảng một tuần trên cả ruộng. Mỗi bông lúa trổ ra khỏi bẹ trong vài ngày, và các hoa trên bông nở dần từ ngọn xuống. Ruộng lúa đều, cùng tuổi thì trổ tập trung trong thời gian ngắn, dễ chăm và dễ né thời tiết xấu.

Hoa lúa nở chủ yếu vào buổi sáng. Vỏ trấu mở ra, nhị đực thò ra ngoài, quá trình thụ phấn diễn ra trong thời gian ngắn rồi vỏ trấu đóng lại. Bà con gọi là lúa "phơi màu". Phun thuốc, phun nước hay tác động mạnh vào lúc này có thể làm hỏng hạt phấn, tăng hạt lép. Nếu bắt buộc phải xử lý gì, thường làm vào chiều mát theo hướng dẫn.

Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp lúc nở hoa gây lép. Nắng nóng gay gắt hoặc gió khô nóng như gió Lào ở Bắc Trung Bộ, hay rét muộn ở miền Bắc, đều có thể làm hạt phấn chết, hoa không thụ được. Đây là lý do lịch thời vụ được tính sao cho lúa trổ vào khoảng thời gian an toàn nhất của vùng.

Thiếu nước lúc trổ làm lúa trổ không thoát. Bông bị kẹt một phần trong bẹ lá đòng, phần hạt bên trong lép hoặc lửng. Giữ ruộng có nước trong suốt thời gian trổ và khoảng một tuần sau.

Mưa to, gió lớn lúc trổ là rủi ro khó tránh. Không có cách ngăn thời tiết, nhưng ruộng đều, cứng cây, không rậm vì thừa đạm thì chịu đựng tốt hơn. Sau mưa lớn, kiểm tra nước, tháo bớt nếu ngập, và theo dõi bệnh trên bông những ngày sau đó.

Lúa đổ ngã: nguyên nhân, cách phòng và xử lý khi đã đổ

Lúa đổ khi đang vào chắc hoặc gần chín gây hao hụt lớn: hạt chạm nước nảy mầm trên bông, thối, chuột và chim phá, máy gặt khó gặt và rơi nhiều. Có hai kiểu đổ: thân gãy gập ở lóng gốc, thường do thân yếu; và cả khóm bật nghiêng, thường do rễ nông, đất bùn sâu. Nguyên nhân thường là sự cộng dồn của nhiều yếu tố chứ ít khi chỉ một.

Các nguyên nhân hay gặp nhất: bón thừa đạm, nhất là bón muộn, làm lóng gốc vươn dài, mềm; gieo sạ hoặc cấy quá dày khiến cây nhỏ, cao vống tranh ánh sáng; không phơi ruộng giữa vụ nên rễ nông; giữ nước sâu kéo dài; giống cao cây, thân mềm; và sâu đục thân, bệnh làm thối gốc thân. Gặp thêm mưa giông cuối vụ là đổ.

Phòng đổ ngã chủ yếu nằm ở giai đoạn trước làm đòng: gieo cấy đúng mật độ, bón cân đối và theo màu lá thay vì bón dư cho chắc, phơi ruộng khi đủ dảnh, chọn giống cứng cây cho ruộng trũng và vùng hay có giông. Kali và silic giúp thân lúa cứng hơn; nhu cầu dinh dưỡng theo giai đoạn được bàn kỹ ở danh mục dinh dưỡng cây trồng.

Khi lúa đã đổ, việc đầu tiên là rút nước ngay để hạt không ngâm nước. Nếu lúa đổ sớm, khi còn đang trổ hoặc ngậm sữa, ở diện tích nhỏ có thể dựng và buộc các khóm lại với nhau thành chụm để bông không chạm nước. Nếu lúa đã gần chín, nên tính gặt sớm phần bị đổ, báo trước cho chủ máy gặt để điều chỉnh. Ghi lại ruộng nào đổ, đổ ở chỗ nào, để vụ sau điều chỉnh mật độ và cách bón ở đúng chỗ đó.

Câu hỏi thường gặp

Lúa làm đòng bao lâu thì trổ?

Thường khoảng một tháng, chênh lệch vài ngày tuỳ giống và nhiệt độ. Giai đoạn từ khi bắt đầu phân hoá đòng tới trổ tương đối ổn định giữa các giống. Bóc dảnh thấy đòng non dài khoảng một hai milimét là mốc bắt đầu, từ đó có thể ước lượng ngày trổ.

Lá đòng bị sâu ăn có ảnh hưởng nhiều không?

Lá đòng và vài lá ngay dưới là lá quang hợp chính nuôi hạt, nên tổn thương lá đòng có ảnh hưởng lớn hơn tổn thương lá ở giai đoạn đẻ nhánh. Nên thăm đồng kỹ hơn từ khi lá đòng xuất hiện và hỏi cán bộ bảo vệ thực vật khi mật độ sâu vượt ngưỡng khuyến cáo.

Có nên phun thuốc khi lúa đang trổ không?

Nên tránh phun vào buổi sáng khi hoa lúa đang nở vì có thể làm hỏng hạt phấn, tăng hạt lép. Nếu bắt buộc phải xử lý theo khuyến cáo, thường làm vào chiều mát và theo đúng hướng dẫn trên nhãn. Tốt nhất là chủ động phòng trước giai đoạn trổ.

Vì sao bông lúa nhiều hạt lép dù cây xanh tốt?

Có thể do thời tiết bất lợi lúc phân hoá hạt phấn hoặc lúc nở hoa như nắng nóng, rét muộn, mưa lớn; do thiếu nước lúc làm đòng, trổ; do sâu bệnh hại bông, cổ bông; hoặc do bón thừa đạm làm cây xanh mà bông yếu. Cần xem lại nhật ký thời tiết và chăm sóc để tìm nguyên nhân.

Lúa đổ khi gần chín có nên gặt ngay không?

Nếu hạt đã vào chắc gần đủ, nên rút nước ngay và tính gặt sớm phần bị đổ để tránh hạt nảy mầm và hao hụt. Báo trước với chủ máy gặt vì lúa đổ gặt chậm và cần chỉnh máy. Nếu hạt còn non, có thể buộc chụm lại cho bông không chạm nước rồi chờ thêm ít ngày.

Bảng so màu lá dùng thế nào?

So màu lá lúa thứ nhất tính từ ngọn xuống, đã mở hoàn toàn, với các ô màu trên bảng ở chỗ râm, so vài chục lá ở nhiều điểm trong ruộng. Nếu màu lá nhạt hơn ngưỡng khuyến cáo cho giống và giai đoạn đó thì cân nhắc bón thêm. Hỏi khuyến nông địa phương để có bảng và ngưỡng phù hợp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68