TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Ruộng lúa kết hợp nuôi trồng

Nuôi vịt trong ruộng lúa có hại lúa không: thả lúc nào, rút lúc nào cho lúa được lợi

Vịt thả đúng lúc thì làm cỏ, ăn sâu, ăn ốc, sục bùn giúp lúa; thả sai lúc thì giẫm mạ, ăn đòng, ăn hạt. Mốc thả, rút vịt, rào chắn và giới hạn của lúa – vịt.

A small flock of young ducks swimming between rows of knee-high green rice plants in a flooded paddy, low angle at water level, soft morning light, farmer far in background

Nuôi vịt trong ruộng lúa không hại lúa nếu thả đúng giai đoạn: vịt con thả vào sau khi lúa đã bén rễ, đứng vững, và rút ra trước khi lúa trổ bông. Trong khoảng đó, vịt bơi lội giữa hàng lúa ăn cỏ non, hạt cỏ, sâu, rầy rơi xuống nước, ốc bươu vàng nhỏ, đồng thời sục bùn làm đục nước khiến cỏ khó mọc. Thả vịt lớn vào lúa non, hoặc để vịt ở lại khi lúa trổ, thì vịt giẫm, ngắt lá, ăn đòng và ăn hạt — lúc đó mới hại.

Mô hình này khác với "vịt chạy đồng" quen thuộc ở miền Tây, nơi đàn vịt được lùa vào ruộng sau gặt để ăn lúa rơi. Ở đây vịt sống cùng lúa đang lớn, trên một thửa có rào, đóng vai người làm cỏ và bắt sâu. Bài này nói từ góc ruộng lúa: cách bố trí, lịch thả – rút, những gì lúa được và mất. Kỹ thuật chọn giống vịt, thức ăn, chuồng trại và phòng bệnh cho vịt thuộc trang chuyên về chăn nuôi.

Vịt làm được gì cho ruộng lúa — và cơ chế thật

Làm cỏ bằng hai cách. Vịt ăn trực tiếp mầm cỏ, cỏ non và hạt cỏ nổi. Quan trọng hơn, chân vịt quẫy liên tục làm nước đục, ánh sáng không xuống tới mặt bùn, nhiều loại cỏ khó nảy mầm. Hiệu quả rõ với cỏ lá rộng và cỏ non; cỏ đã lớn, cỏ lồng vực cao gần bằng lúa thì vịt không xử lý được.

Ăn sâu hại và ốc. Vịt mổ rầy, sâu non rơi xuống mặt nước, mổ ổ trứng và ốc bươu vàng còn nhỏ. Ốc to vỏ cứng thì vịt con không ăn được. Đây là lý do nhiều hộ thấy ruộng có vịt ít ốc hơn rõ rệt ở giai đoạn lúa non.

Sục bùn, thông khí cho rễ. Mỏ và chân vịt khuấy lớp bùn mặt, giúp tầng đất sát rễ bớt yếm khí, một phần chất hữu cơ phân giải nhanh hơn. Cơ chế này có thật nhưng mức độ khó đo; đừng kỳ vọng nó thay việc quản lý nước.

Bón phân tại chỗ. Phân vịt rơi đều trên ruộng là nguồn đạm, lân. Lượng không lớn so với nhu cầu cả vụ nhưng giúp giảm phân bón thêm, và vì vậy ruộng có vịt cần bón ít hơn để tránh lúa lốp.

Kích thích lúa cứng cây. Vịt bơi cọ vào thân lúa non. Một số người làm lâu năm cho rằng lúa nhờ đó cứng cây hơn; điều này chưa có số liệu chắc chắn, nên chỉ coi là quan sát.

Lịch thả và rút vịt theo giai đoạn lúa

Bảng dưới là khung cho lúa cấy hoặc sạ hàng giống ngắn và trung ngày. Thời điểm cụ thể tùy giống lúa, tuổi vịt và vùng:

Giai đoạn lúaVịtLý do
Mới cấy hoặc mới sạ, chưa bén rễChưa thảVịt giẫm và nhổ bật cây mạ yếu, ăn hạt sạ
Lúa đã bén rễ, đứng vững (thường 1–2 tuần sau cấy)Thả vịt con nhỏCỏ bắt đầu mọc, vịt nhỏ không đủ sức làm hại lúa
Đẻ nhánhGiữ vịt trong ruộngGiai đoạn vịt làm cỏ, ăn sâu, ăn ốc hiệu quả nhất
Làm đòngCân nhắc rút dầnVịt đã lớn, bắt đầu ngắt lá, dập thân
Trổ bông, ngậm sữa, chínRút hếtVịt ăn hoa, ăn hạt sữa, làm đổ lúa
Sau gặtCó thể thả lạiĂn lúa rơi, cỏ, côn trùng trên ruộng gặt

Nguyên tắc dễ nhớ: vịt phải nhỏ hơn lúa. Vịt lớn nhanh hơn lúa, nên tới khoảng lúa làm đòng thì vịt đã đủ to để gây hại. Vì vậy người ta thả vịt con chứ không thả vịt lớn, và có hộ chia đợt: một đàn cho giai đoạn đầu, rút đi rồi thả lại sau gặt.

Mô hình lúa – vịt được biết đến rộng rãi qua cách làm của nông dân Nhật Bản Takao Furuno, người kết hợp vịt với lúa trong canh tác không dùng thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ; nhiều nước châu Á đã thử điều chỉnh theo điều kiện của mình. Ở Việt Nam, các mô hình lúa – vịt thường gắn với sản xuất lúa an toàn, lúa hữu cơ quy mô nhỏ.

Chuẩn bị ruộng để nuôi vịt cùng lúa

Ruộng chuyên lúa không tự nhiên thành ruộng lúa – vịt. Cần sửa vài thứ trước vụ:

  1. Chọn thửa giữ được nước. Vịt cần mặt nước để bơi, nên ruộng phải giữ ngập nông ổn định suốt thời gian thả vịt. Ruộng cao, hay khô, không phù hợp.
  2. Làm rào quanh thửa. Rào lưới thấp quanh bờ để vịt không chạy sang ruộng người khác, đồng thời ngăn chó, chồn, rắn. Thiếu rào là nguồn xích mích với hàng xóm và mất vịt ban đêm.
  3. Dựng chỗ trú trên bờ. Một chòi nhỏ có mái che mưa nắng, sàn khô, để vịt nghỉ đêm và tránh mưa lớn. Vịt con mới thả rất dễ chết rét khi mưa dầm.
  4. Cấy hoặc sạ theo hàng, khoảng cách rộng hơn chút. Hàng thẳng, có lối giúp vịt bơi qua lại được, ít giẫm vào gốc lúa. Lúa gieo dày lộn xộn thì vịt khó đi, cỏ giữa khóm không ai làm.
  5. Tập vịt con trước khi thả. Vịt mới nở nuôi úm vài ngày đến một tuần, cho làm quen với nước rồi mới đưa ra ruộng, ban đầu thả vài giờ rồi tăng dần.
  6. Tính số vịt theo diện tích. Mật độ thấp, đủ để vịt đi khắp ruộng nhưng không cày nát. Mật độ cụ thể khác nhau theo giống vịt, tuổi và sức ruộng; nên tham khảo hộ đã làm hoặc cán bộ khuyến nông, bắt đầu thưa rồi điều chỉnh.

Ruộng có vịt thì không dùng thuốc trừ cỏ, thuốc diệt ốc, và hạn chế tối đa thuốc trừ sâu. Đây vừa là điều kiện để vịt sống, vừa là lý do tồn tại của mô hình. Nếu ruộng xung quanh phun nhiều, nước chảy tràn sang có thể làm vịt ngộ độc; hỏi trước lịch phun của các thửa bên cạnh.

Những điều lúa mất và giới hạn của mô hình

Lúa – vịt không phải phép màu. Thứ nhất, vịt không thay được hoàn toàn việc làm cỏ: cỏ mọc trước khi thả vịt, cỏ trên bờ, cỏ ở góc ruộng sâu vịt ít tới vẫn phải nhổ tay. Thứ hai, vịt ăn được sâu non trên mặt nước nhưng không với tới sâu trên ngọn lá, sâu đục thân nằm trong thân lúa. Năm sâu bệnh bùng phát, ruộng lúa – vịt vẫn có thể thiệt hại.

Thứ ba, chi phí và công sức tăng: rào, chòi, vịt giống, thức ăn bổ sung, người trông. Vịt trong ruộng vẫn cần cho ăn thêm vì lượng thức ăn tự nhiên không đủ cho vịt lớn, nhất là giai đoạn sau. Người trông vịt phải có mặt sáng chiều, lùa vịt về chòi buổi tối.

Thứ tư, mô hình hợp với thửa nhỏ và vừa, nông hộ có người ở gần ruộng. Cánh đồng lớn, cơ giới hoá cao, gieo sạ dày thì khó áp dụng. Cũng vì thế mà lúa – vịt hay gắn với sản xuất lúa an toàn, lúa hữu cơ bán theo kênh riêng, nơi người mua trả công cho việc không dùng thuốc.

Cuối cùng là vấn đề dịch bệnh gia cầm. Vịt thả ruộng tiếp xúc với chim hoang, nước chung, nên phải tiêm phòng theo hướng dẫn thú y, không thả vịt khi trong vùng có dịch, và người chăm vịt cần rửa tay, giữ vệ sinh. Báo ngay cho cán bộ thú y xã khi thấy vịt chết bất thường.

Ruộng lúa – vịt ở từng vùng

Cách làm thay đổi theo điều kiện nước và tập quán:

  • Đồng bằng sông Hồng: thửa ruộng nhỏ, gần nhà, dễ trông vịt. Vụ xuân rét đầu vụ nên thả vịt muộn hơn khi trời ấm; vụ mùa mưa nhiều thì chú ý chòi trú.
  • Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: ruộng hay hạn đầu vụ, phải bảo đảm giữ được nước mới nuôi vịt. Một số vùng kết hợp thả vịt trên ruộng sau gặt để ăn ốc và lúa rơi.
  • Đồng bằng sông Cửu Long: có truyền thống nuôi vịt lâu đời, chủ yếu là vịt chạy đồng sau gặt. Lúa – vịt trong vụ phù hợp các thửa làm lúa sạch, lúa hữu cơ, thường quy mô nhỏ trong cánh đồng lớn.
  • Miền núi: ruộng bậc thang hẹp, mỗi thửa ít vịt, nhưng nhiều bản đã có thói quen thả vịt, ngan ra ruộng; chú ý bờ ruộng yếu dễ bị vịt mổ, sục làm rò nước.

Ở vùng nào cũng vậy, mô hình chỉ có ý nghĩa khi người làm thật sự giảm thuốc. Nuôi vịt trong ruộng mà vẫn phun định kỳ như ruộng thường thì vừa hại vịt, vừa không được lợi gì từ vịt.

Một vụ lúa – vịt nhìn từ đầu tới cuối

Hình dung một hộ ở đồng bằng có thửa ruộng vài sào gần nhà. Trước vụ, họ đắp lại bờ cho chắc, dựng rào lưới thấp và một chòi tre nhỏ ở góc ruộng. Lúa cấy theo hàng. Cùng lúc đó, mua vịt con về úm trong sân. Khoảng một hai tuần sau cấy, khi khóm lúa đã xanh trở lại, đẻ thêm lá mới, vịt con được thả ra ruộng vài giờ buổi sáng, rồi ở cả ngày.

Trong những tuần đẻ nhánh, ruộng có tiếng vịt suốt ngày, nước luôn đục. Cỏ trong ruộng ít hẳn, chỉ còn vài khóm cỏ to ở góc phải nhổ. Ốc nhỏ gần như không thấy. Người trông cho vịt ăn thêm buổi chiều để vịt quen về chòi. Lúa xanh vừa phải vì đã giảm phân đạm.

Tới khi bóc dảnh thấy đòng, vịt đã lớn, bắt đầu ngắt lá lúa. Đây là lúc rút đàn vịt: bán, chuyển sang ao hoặc nuôi nhốt tiếp. Từ đây lúa được chăm như ruộng thường nhưng tiếp tục hạn chế thuốc. Sau gặt, nếu có đàn vịt mới, có thể thả lại để ăn lúa rơi và côn trùng trước khi làm đất vụ sau.

Ví dụ trên là minh hoạ chung, không phải số liệu một hộ cụ thể. Mỗi vùng, mỗi thửa ruộng sẽ phải điều chỉnh theo giống lúa, giống vịt và sức trông coi của gia đình.

Phân bón và nước cho ruộng lúa có vịt

Ruộng có vịt cần ít đạm hơn ruộng thường, vì phân vịt rơi xuống ruộng hằng ngày và được hoà vào bùn nhờ chính vịt sục. Bón đạm theo thói quen cũ trên ruộng lúa – vịt dễ làm lúa xanh đậm, lá mềm, rậm gốc, vừa hấp dẫn rầy vừa dễ đổ ngã lúc chín. Cách an toàn là bón lót bằng phân hữu cơ hoai và lân, giảm đạm thúc đầu, rồi nhìn màu lá mà quyết định có bón thêm hay không. Bảng so màu lá của khuyến nông là công cụ rẻ và hữu ích cho việc này.

Về nước, vịt cần một lớp nước nông thường xuyên để bơi lội, mò mồi; nước quá sâu thì vịt chỉ bơi mà ít sục gốc, nước cạn trơ đất thì vịt khó kiếm ăn và giẫm lên lúa. Vì vậy ruộng lúa – vịt thường giữ nước nông ổn định suốt giai đoạn thả vịt, khác với ruộng tưới ướt khô xen kẽ. Nếu muốn phơi ruộng giữa vụ để hạn chế nhánh vô hiệu, nên làm sau khi đã rút vịt, hoặc lùa vịt sang thửa khác trong mấy ngày phơi. Bờ và cống phải kín, vì nước rò làm vịt dồn về chỗ trũng, giẫm nát một góc ruộng.

Câu hỏi thường gặp

Vịt có ăn lúa non không?

Vịt con nhỏ chủ yếu ăn cỏ non, côn trùng, ốc nhỏ và hầu như không hại lúa đã bén rễ. Vịt lớn thì có thể ngắt lá, giẫm dập cây, và tới khi lúa trổ thì ăn hoa, ăn hạt sữa. Vì vậy chỉ thả vịt con và rút vịt trước khi lúa trổ.

Lúa – vịt có khác vịt chạy đồng không?

Khác. Vịt chạy đồng là đàn vịt lùa vào ruộng đã gặt để ăn lúa rơi, di chuyển qua nhiều cánh đồng. Lúa – vịt là thả vịt con trong ruộng đang có lúa sinh trưởng, có rào, để vịt làm cỏ, ăn sâu, ăn ốc cho chính thửa lúa đó.

Ruộng có vịt có cần bón phân nữa không?

Vẫn cần, nhưng thường ít hơn vì phân vịt rơi xuống ruộng cung cấp thêm đạm và lân. Bón như ruộng thường cộng thêm phân vịt dễ làm lúa lốp, đổ và nhiều sâu bệnh. Theo dõi màu lá để điều chỉnh.

Có thể phun thuốc trừ sâu khi vịt đang ở trong ruộng không?

Không nên. Nhiều loại thuốc độc với vịt và với sinh vật dưới nước, đồng thời làm mất ý nghĩa của mô hình. Nếu sâu bệnh vượt ngưỡng buộc phải xử lý, rút vịt ra trước, hỏi cán bộ bảo vệ thực vật về cách làm và thời gian chờ an toàn trước khi thả lại.

Thả vịt có trị được ốc bươu vàng không?

Vịt ăn tốt ốc nhỏ và trứng ốc, giúp giảm mật độ ốc rõ ở giai đoạn lúa non. Ốc lớn vỏ cứng thì vịt con khó ăn. Nên kết hợp với các biện pháp khác như thu gom ốc, đặt cọc cho ốc đẻ để ngắt trứng, giữ nước hợp lý đầu vụ.

Mô hình lúa – vịt có hợp với ruộng sạ dày không?

Khó hợp. Lúa sạ dày, lộn xộn khiến vịt khó bơi qua lại, cỏ giữa khóm không được làm, vịt hay giẫm vào cây. Mô hình hợp hơn với lúa cấy hoặc sạ theo hàng có khoảng cách rộng vừa phải.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68