TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Ruộng lúa kết hợp nuôi trồng

Mô hình lúa – tôm làm thế nào: trồng lúa mùa mưa trên ruộng tôm vùng mặn luân phiên

Lúa – tôm là nuôi tôm mùa khô khi nước mặn, trồng lúa mùa mưa khi nước ngọt. Cách rửa mặn, chọn lúa, làm mạ cấy và giữ ruộng để vụ lúa không làm hỏng vụ tôm.

Wide view of a flooded coastal rice field ringed by a deep perimeter canal in the Mekong Delta, a farmer seen from behind transplanting tall seedlings, overcast rainy season light

Mô hình lúa – tôm là luân phiên trên cùng một thửa ruộng ven biển: mùa khô, khi nước sông và kênh mặn, bà con lấy nước mặn vào nuôi tôm; đầu mùa mưa, nước ngọt từ mưa đẩy mặn đi, ruộng được rửa rồi cấy một vụ lúa. Lúa ăn phần chất thải, bùn đáy của vụ tôm; gốc rạ và rơm mục sau vụ lúa lại làm mồi cho vụ tôm năm sau. Mấu chốt nằm ở hai khâu: rửa mặn đủ trước khi xuống lúa, và trồng lúa thế nào để không làm bẩn ruộng cho vụ tôm kế tiếp.

Phần lớn diện tích lúa – tôm nằm ở bán đảo Cà Mau và ven biển phía tây: vùng U Minh Thượng, An Biên, An Minh (Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang), Hồng Dân, Phước Long (Bạc Liêu cũ, nay thuộc Cà Mau), Thới Bình (Cà Mau) và một phần Sóc Trăng cũ (nay thuộc Cần Thơ). Bài này đứng ở góc người làm lúa: lịch nước, rửa mặn, chọn giống theo tiêu chí, làm mạ và chăm lúa trên một nền đất vừa nuôi tôm xong. Phần nuôi tôm (con giống, mật độ, thức ăn, bệnh tôm) thuộc trang chuyên về thủy sản.

Vì sao lúa và tôm luân phiên được trên cùng một ruộng

Vùng ven biển bán đảo Cà Mau có hai mùa nước rõ rệt. Khoảng từ tháng 12 tới tháng 4–5, mưa gần như không có, mặn theo kênh rạch vào sâu nội đồng. Từ khoảng tháng 5–6, mưa xuống, nước ngọt tích lại trên ruộng và trong kênh, mặn lùi dần. Nếu chỉ trồng lúa, ruộng bỏ không suốt mùa khô. Nếu chỉ nuôi tôm quanh năm, đáy ruộng tích bùn hữu cơ, mầm bệnh tôm tăng dần qua từng năm. Luân phiên là cách tận dụng cả hai mùa và để mỗi vụ dọn đường cho vụ kia.

Vụ tôm để lại đáy ruộng một lớp bùn có chất hữu cơ, phân tôm, thức ăn thừa. Với lúa, đó là nguồn dinh dưỡng, nhiều hộ làm lúa trên ruộng tôm bón phân ít hơn hẳn ruộng chuyên lúa. Ngược lại, rễ lúa hút bớt dinh dưỡng thừa, gốc rạ để lại làm nơi sinh sống cho tảo, sinh vật nhỏ mà tôm con ăn ở vụ sau. Thời gian ngâm nước ngọt cũng làm gián đoạn vòng đời một số mầm bệnh của tôm vốn cần nước mặn.

Đổi lại, lúa trên ruộng tôm có những ràng buộc mà ruộng chuyên lúa không có: không làm đất kỹ được vì bờ, mương phục vụ tôm; mặn tồn trong đất có thể ngoi lên khi nắng hạn giữa vụ; và mọi thứ đưa xuống ruộng trong vụ lúa, nhất là thuốc bảo vệ thực vật, có thể ảnh hưởng tới tôm còn sót trong mương hoặc vụ tôm năm sau.

Lịch năm của một ruộng lúa – tôm (khung tham khảo)

Mốc tháng dưới đây chỉ là khung chung cho vùng bán đảo Cà Mau; năm mưa sớm hay muộn, mặn về sớm hay muộn thì phải dời theo. Bản tin dự báo mặn của ngành nông nghiệp tỉnh và đo độ mặn tại ruộng là căn cứ chính:

Thời gian (gần đúng)Trên ruộngViệc chính của người làm lúa
Tháng 1 – 5Nuôi tôm nước mặnChuẩn bị giống lúa, vật tư; theo dõi tin mặn, tin mưa
Tháng 5 – 7Thu tôm, nghỉ ruộng, rửa mặnTháo nước mặn, đón mưa, xả nước rửa nhiều lần; đo độ mặn
Tháng 7 – 8Làm mạ, cấy lúaLàm mạ ở chỗ đất cao hoặc nơi đã ngọt; cấy khi ruộng đạt ngưỡng
Tháng 8 – 11Lúa sinh trưởngGiữ nước ngọt ổn định; có thể thả tôm càng xanh hoặc cá trong mương
Tháng 11 – 12Thu hoạch lúaGặt, để gốc rạ; chuẩn bị lấy nước mặn cho vụ tôm

Nhìn bảng sẽ thấy vụ lúa bị kẹp giữa hai đầu: cấy sớm quá thì ruộng chưa đủ ngọt, cấy muộn quá thì cuối vụ gặp mặn quay lại và lúa trổ trong lúc nước kênh bắt đầu lợ. Vì thế giống lúa ở vùng này thường chọn loại có thời gian sinh trưởng vừa phải và chịu được mặn nhẹ ở giai đoạn đầu và cuối.

Ở một số nơi gần cống đầu mối, việc lấy nước ngọt hay nước mặn còn phụ thuộc lịch vận hành cống chung của cả vùng, không do một hộ tự quyết. Theo sát thông báo của xã và tổ hợp tác về lịch đóng mở cống.

Rửa mặn trước khi xuống lúa: làm theo thứ tự

Phần lớn vụ lúa – tôm thất bại không phải vì sâu bệnh mà vì cấy lúa khi đất còn mặn: lúa vàng, cháy chóp lá, chết từng chòm. Rửa mặn là việc dùng nước mưa hòa tan muối trong lớp đất mặt rồi tháo đi, làm nhiều lần:

  1. Thu tôm xong, tháo cạn nước mặn trong ruộng và mương càng sớm càng tốt khi có dự báo mưa. Đóng cống phía kênh mặn để không cho nước mặn vào lại.
  2. Sên vét bớt bùn đen nhão đáy mương nếu lớp bùn dày, bốc mùi. Bùn này giàu hữu cơ nhưng cũng giữ mặn và chất độc; đưa lên bờ phơi chứ không trải dày trên mặt ruộng.
  3. Đón mưa, giữ nước mưa vài ngày rồi tháo ra. Mỗi lần giữ nước, muối trong lớp đất mặt tan vào nước; tháo đi là mang muối ra. Lặp lại nhiều lần theo các trận mưa lớn. Nơi có nguồn nước ngọt từ kênh thủy lợi thì bơm vào hỗ trợ.
  4. Xới nhẹ hoặc trục mặt ruộng giữa các lần rửa, nếu làm được, để nước tiếp xúc với đất nhiều hơn. Không cày sâu lật lớp đất phèn, đất mặn bên dưới lên.
  5. Đo độ mặn trước khi cấy bằng khúc xạ kế hoặc bút đo độ mặn, đo cả nước trên ruộng và nước trong mương, đo vào buổi chiều nắng khi muối dễ ngoi lên. Ngưỡng cấy an toàn tùy giống; nhiều nơi lấy mốc khoảng 2–3 phần nghìn trở xuống cho lúa mới cấy, nhưng con số cụ thể nên hỏi cán bộ khuyến nông địa phương theo giống đang dùng.
  6. Chưa đạt ngưỡng thì chờ thêm mưa, không cấy liều. Mạ có thể giữ thêm ít ngày ở ruộng mạ; lúa cấy vào đất mặn chết rồi thì gần như mất trắng công.

Một chi tiết hay bị bỏ qua: đất ven mương thường mặn hơn giữa ruộng vì nước mặn ngấm ngang qua bờ. Đo vài điểm, cả sát bờ lẫn giữa thửa, rồi lấy điểm mặn nhất làm căn cứ.

Chọn giống lúa cho ruộng tôm: tiêu chí thay vì tên giống

Chịu mặn ở giai đoạn mạ và đẻ nhánh. Đầu vụ là lúc mặn tồn trong đất còn cao nhất. Giống lúa được cơ quan nghiên cứu công bố là chịu mặn, có kết quả trồng thử ở vùng tương tự, an toàn hơn giống chỉ nổi tiếng về gạo ngon.

Thời gian sinh trưởng vừa với khoảng nước ngọt. Lấy ngày cấy dự kiến cộng thời gian sinh trưởng của giống, so với tháng mặn quay lại năm trước. Còn dư vài tuần là ổn; sát nút thì đổi giống ngắn hơn.

Thân cứng, chịu được nước sâu hơn ruộng chuyên lúa. Ruộng tôm thường có mặt ruộng thấp, khó tháo hết nước khi mưa dầm. Lúa thân yếu dễ đổ khi giữ nước sâu cuối vụ.

Ít đòi hỏi phân đạm. Nền đất sau vụ tôm đã giàu hữu cơ. Giống phải bón nhiều đạm mới cho năng suất sẽ dễ lốp, đổ, và kéo theo sâu bệnh, buộc phun thuốc nhiều hơn — điều không ai muốn trên ruộng sắp nuôi tôm.

Có nguồn giống xác nhận rõ ràng. Vùng lúa – tôm có nhiều giống lúa thơm và lúa mùa địa phương được ưa chuộng. Dù chọn giống nào, mua hạt giống có nguồn gốc, tỷ lệ nảy mầm được kiểm, tránh giống tự để nhiều vụ lẫn tạp.

Làm mạ và cấy: vì sao vùng này cấy mạ lớn tuổi

Ruộng chuyên lúa ở đồng bằng hiện chủ yếu gieo sạ. Trên ruộng tôm, cấy vẫn được nhiều hộ chọn, vì ba lý do. Thứ nhất, mạ được làm trên một khoảnh đất cao, đã ngọt, nên trong lúc ruộng chính còn rửa mặn thì mạ vẫn lớn; khi ruộng đạt ngưỡng là cấy được ngay, rút ngắn thời gian lúa chiếm ruộng. Thứ hai, cây mạ cao, rễ khoẻ chịu được lớp nước sâu và mặn còn sót tốt hơn hạt sạ mới nảy mầm. Thứ ba, cấy dễ chừa hàng, chừa lối hơn sạ, tiện cho việc thả và thu tôm, cá trong vụ lúa.

Mạ cho ruộng tôm thường để lớn tuổi hơn mạ cấy ruộng thường, cây cao, cứng, để khi cấy xuống ruộng ngập vẫn còn ngọn trên mặt nước. Ruộng mạ làm như ruộng mạ dược thông thường: đất tơi, bón lót phân hữu cơ hoai, gieo thưa để cây mập. Trước khi nhổ mạ vài ngày có thể bón nhẹ để mạ có sức bật lại sau cấy.

Khi cấy, giữ mực nước ruộng nông vừa đủ cho cây mạ đứng, rồi nâng dần theo chiều cao lúa. Mật độ cấy thường thưa hơn ruộng chuyên lúa vì đất giàu dinh dưỡng, lúa đẻ nhánh khoẻ; cấy dày dễ sinh lúa lốp, rậm, ẩm gốc. Chỗ chết sau cấy do mặn cục bộ thì dặm bằng mạ dự phòng để lại ở ruộng mạ.

Chăm lúa giữa vụ mà không làm hỏng vụ tôm sau

Vụ lúa trên ruộng tôm là vụ "giữ sạch". Mọi quyết định trong vụ lúa nên đặt câu hỏi: việc này có để lại gì có hại cho tôm không?

  • Phân bón: bón ít, chia nhỏ, ưu tiên theo nhìn lá lúa. Thừa đạm vừa làm lúa đổ, vừa làm nước ruộng giàu dinh dưỡng, tảo nở mạnh, ảnh hưởng tôm càng xanh hay cá đang nuôi kèm trong mương.
  • Thuốc bảo vệ thực vật: hạn chế tối đa. Nhiều nhóm thuốc trừ sâu rất độc với tôm, kể cả ở nồng độ thấp, và có thể tồn trong bùn. Thăm đồng, chờ tới ngưỡng, ưu tiên biện pháp thủ công, và nếu buộc phải phun thì đọc kỹ dòng cảnh báo độc với thủy sinh trên nhãn, hỏi cán bộ bảo vệ thực vật trước.
  • Thuốc trừ cỏ, thuốc diệt ốc: tránh dùng trên ruộng còn nuôi tôm, cá trong mương. Cỏ trên ruộng tôm thường ít hơn ruộng chuyên lúa nhờ nước ngập sâu và cấy mạ lớn; phần còn lại nhổ tay.
  • Nước: giữ mặt ruộng ngập ổn định, không để khô nứt giữa vụ ở vùng này, vì đất khô là lúc mặn từ dưới ngoi lên. Kiểm tra cống, không để nước mặn rò vào khi triều cường cuối năm.
  • Theo dõi mặn cuối vụ: năm mặn về sớm, nước kênh lợ dần khi lúa đang trổ hoặc ngậm sữa. Lúc này đóng cống giữ nước ngọt trong ruộng, không lấy nước kênh vào dù ruộng hơi cạn.

Sau gặt, gốc rạ để lại ngâm trong nước khi lấy nước mặn vào sẽ mục dần thành nguồn thức ăn tự nhiên. Không đốt đồng: vừa trái với khuyến cáo chung, vừa làm mất đúng thứ mà vụ tôm cần.

Những rủi ro thường gặp và cách nhìn cho thực tế

Rủi ro lớn nhất là thời tiết lệch lịch. Năm mưa muộn, rửa mặn không kịp, nhiều hộ đành bỏ vụ lúa hoặc cấy muộn rồi gặp mặn cuối vụ. Năm hạn mặn gay gắt, nước kênh mặn sớm hơn bình thường. Không có cách nào loại bỏ hoàn toàn rủi ro này; chỉ giảm được bằng giống ngắn ngày hơn, mạ chuẩn bị sẵn để cấy ngay khi đủ điều kiện, và ao, mương trữ được một ít nước ngọt.

Rủi ro thứ hai đến từ chính việc nuôi tôm: có hộ muốn kéo dài vụ tôm, giữ nước mặn trên ruộng tới tận giữa mùa mưa, rút ngắn thời gian rửa mặn. Lúc đó vụ lúa thành vụ phụ, làm qua loa, năm sau đất mặn hơn, lúa càng kém. Ngược lại, lấy nước mặn vào quá sớm khi lúa chưa gặt xong cũng hỏng lúa. Mô hình chỉ bền khi cả hai vụ đều được tôn trọng.

Rủi ro thứ ba là làm một mình giữa cánh đồng làm khác. Nếu hộ bên cạnh nuôi tôm quanh năm, nước mặn ngấm qua bờ sang ruộng lúa nhà mình. Những vùng lúa – tôm ổn định thường có quy hoạch, có tổ hợp tác thống nhất lịch lấy nước. Trước khi làm, hỏi chính quyền xã về quy hoạch vùng sản xuất và lịch vận hành cống của khu vực.

Câu hỏi thường gặp

Ruộng nuôi tôm bao lâu mới trồng lúa được?

Không tính bằng số ngày cố định mà bằng độ mặn đo được. Thu tôm xong, tháo nước mặn, đón mưa và rửa nhiều lần; khi đo nước và đất ở cả sát bờ lẫn giữa ruộng đều dưới ngưỡng an toàn cho giống lúa định cấy thì mới cấy. Năm mưa sớm có thể nhanh, năm mưa ít phải chờ lâu hơn.

Có nên sạ lúa thay vì cấy trên ruộng tôm không?

Một số nơi đã đủ ngọt và mặt ruộng bằng thì sạ được. Nhưng hạt mới nảy mầm rất nhạy với mặn và nước sâu, nên ở ruộng tôm mặt ruộng thấp, mặn tồn nhiều, cấy mạ lớn tuổi an toàn hơn. Cấy cũng giúp rút ngắn thời gian lúa chiếm ruộng.

Trồng lúa trên ruộng tôm có cần bón nhiều phân không?

Thường cần ít hơn ruộng chuyên lúa vì đáy ruộng sau vụ tôm giàu hữu cơ. Bón nhiều đạm dễ làm lúa lốp, đổ, sâu bệnh nhiều. Nên bón chia nhỏ, nhìn màu lá lúa mà điều chỉnh, và hỏi khuyến nông về lượng phù hợp với đất nhà mình.

Lúa đang trổ mà nước kênh bắt đầu lợ thì làm sao?

Đóng cống giữ lượng nước ngọt đang có trong ruộng và mương, không lấy nước kênh vào. Lúa ở giai đoạn trổ, ngậm sữa rất nhạy với mặn, nên một đợt nước lợ có thể gây lép nhiều. Năm sau tính lại ngày cấy hoặc chọn giống ngắn ngày hơn.

Có thể nuôi gì thêm trong vụ lúa trên ruộng tôm?

Nhiều hộ thả tôm càng xanh hoặc cá nước ngọt trong mương bao suốt vụ lúa, thu khi chuẩn bị lấy nước mặn. Khi đó càng phải hạn chế thuốc bảo vệ thực vật và phân bón. Kỹ thuật thả, mật độ, thức ăn cho tôm càng xanh nên tham khảo cán bộ thủy sản địa phương.

Gốc rạ sau gặt có nên đốt để chuẩn bị nuôi tôm?

Không nên. Gốc rạ ngâm trong nước sẽ mục dần, nuôi tảo và sinh vật nhỏ làm thức ăn tự nhiên cho tôm con. Đốt đồng gây ô nhiễm khói, mất chất hữu cơ và trái với khuyến cáo chung. Nếu rơm quá dày, gom bớt lên bờ làm việc khác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68