TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Nông nghiệp tuần hoàn và phụ phẩm

Nước xả biogas và phân lỏng tưới cây: pha loãng, tưới cây nào, tránh tưới lúc nào

Nước xả biogas còn đạm, kali và một phần mầm bệnh. Dùng tưới cây lâu năm, cỏ, cây ăn trái thì tốt; rau ăn sống thì phải cẩn trọng. Pha loãng, lịch tưới và giới hạn.

A farmer seen from behind watering the base of young banana plants with a long hose connected to a small concrete outlet tank, wet soil, green garden around, late afternoon light

Nước xả sau hầm biogas còn khá nhiều đạm ở dạng dễ tiêu, kali, một ít lân và chất hữu cơ, nên tưới cây có ích. Cách dùng an toàn là pha loãng với nước sạch, tưới vào gốc chứ không tưới lên lá, ưu tiên cây lâu năm, cây ăn trái, cây công nghiệp, cỏ nuôi gia súc; với rau ăn lá, rau ăn sống thì chỉ tưới khi cây còn nhỏ hoặc tưới gốc, và dừng tưới đủ lâu trước khi thu hoạch. Không tưới khi đất đã đẫm nước hoặc sắp mưa to, và không để nước xả chảy ra kênh, ao.

Lý do phải cẩn trọng là quá trình biogas chỉ làm giảm một phần mầm bệnh và trứng giun sán, chứ không tiêu diệt hết. Nồng độ dinh dưỡng cũng thay đổi theo loại vật nuôi, lượng nước rửa chuồng và tình trạng hầm. Bài này nói về cách dùng ở quy mô nông hộ; các tỷ lệ pha và khoảng cách thời gian chỉ là tham khảo, tuỳ cây, tuỳ đất.

Trong nước xả biogas còn gì

Khi phân và nước rửa chuồng đi qua hầm, vi sinh vật chuyển phần lớn chất hữu cơ dễ phân huỷ thành khí. Phần còn lại chảy ra bể đầu ra gồm nước, chất hữu cơ khó phân huỷ hơn, và các chất dinh dưỡng gần như giữ nguyên: đạm phần lớn chuyển sang dạng amoni dễ tiêu, kali hoà tan, lân một phần lắng xuống đáy theo bã. Vì vậy nước xả biogas giống một loại phân lỏng loãng, tác dụng nhanh hơn phân chuồng ủ.

Mùi của nước xả nhẹ hơn nhiều so với phân tươi, ruồi muỗi ít bị thu hút hơn, đó là lý do nhiều hộ coi nó như đã "sạch". Thực tế, thời gian lưu trong hầm nông hộ thường không đủ để diệt hết vi khuẩn gây bệnh đường ruột, trứng giun, đặc biệt khi hầm quá tải hoặc nạp không đều. Nước xả vẫn là chất thải chăn nuôi cần xử lý cẩn thận.

Nồng độ dinh dưỡng rất khác nhau giữa các hộ: hầm nhận phân heo với nhiều nước rửa chuồng cho nước xả loãng; hầm nhận phân bò ít nước cho nước xả đặc hơn. Không có công thức chung, nên cách an toàn là bắt đầu pha loãng nhiều và quan sát phản ứng của cây.

Cây nào hợp với nước xả biogas

Mức độ phù hợp phụ thuộc vào phần nào của cây được ăn và cây có chịu được đạm nhiều hay không. Bảng dưới gợi ý cho các nhóm cây phổ biến trong nông hộ.

Nhóm câyMức độ phù hợpCách dùng
Cỏ trồng nuôi gia súcRất hợpTưới sau mỗi lứa cắt, pha loãng; cỏ đi qua gia súc, không đến thẳng người
Cây công nghiệp: cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, míaHợpTưới vào rãnh, vào gốc mùa khô, tránh lúc cây đang ra hoa nếu đạm làm cây ra đọt
Cây ăn tráiHợpTưới gốc thời kỳ phục hồi sau thu hoạch, nuôi đọt; hạn chế lúc nuôi trái gần chín
Chuối, đu đủ, cây hàng ràoHợpTưới gốc định kỳ, pha loãng
Rau ăn quả: bầu bí, mướp, cà, ớtDùng được có điều kiệnTưới gốc khi cây còn nhỏ, ngừng khi quả gần thu
Rau ăn lá, rau ăn sống, rau thơmHạn chếKhông tưới lên lá; nếu dùng chỉ tưới gốc giai đoạn đầu, dừng đủ lâu trước thu hoạch
Củ ăn sống, củ sát đất như cà rốtHạn chếCủ tiếp xúc trực tiếp đất tưới; ưu tiên phân ủ hoai thay vì nước xả

Nguyên tắc chung: càng gần bàn ăn của người, càng phải thận trọng. Cỏ và cây công nghiệp là nơi dùng nước xả an toàn nhất.

Pha loãng và tưới: cách làm ở mức nông hộ

Các bước dưới đây là khung chung. Tỷ lệ pha nên bắt đầu loãng, sau vài lần tưới quan sát cây rồi mới điều chỉnh.

  1. Lấy nước xả ở bể đầu ra, không lấy trực tiếp ở hầm. Nếu có bể lắng thứ hai, để nước xả lắng thêm vài ngày giúp giảm bớt mầm bệnh và chất rắn.
  2. Pha loãng với nước sạch, nước ao, nước giếng. Tài liệu khuyến nông thường khuyên pha loãng nhiều lần, nhất là với cây non; nước xả càng đặc, cây càng nhỏ thì pha càng loãng.
  3. Tưới vào gốc, vào rãnh quanh tán, tránh tưới lên lá, hoa, quả. Với cây lâu năm, đào rãnh nông quanh tán rồi đổ nước pha, lấp đất mỏng giúp giảm mùi và giảm thất thoát đạm.
  4. Tưới khi đất hơi ẩm, không tưới lúc đất đang khô nứt nẻ nặng làm cây hút quá nhanh, cũng không tưới khi đất đã sũng nước hoặc trời sắp mưa to vì nước sẽ trôi ra kênh, ao.
  5. Giãn khoảng cách các lần tưới, xen với tưới nước sạch. Không tưới dồn dập vào một chỗ.
  6. Quan sát cây: lá xanh đậm quá mức, cây ra đọt non liên tục, thân mềm yếu là dấu hiệu thừa đạm; lá cháy mép, héo sau tưới là dấu hiệu nồng độ quá cao. Gặp các dấu hiệu này thì giảm lượng, tăng độ pha loãng.

Phần bã đặc lắng dưới đáy bể đầu ra giàu lân và chất hữu cơ hơn nước xả. Bã nên phơi hoặc trộn vào đống ủ cùng rơm, lá khô cho hoai thêm rồi mới bón gốc cây.

Một năm dùng nước xả ở hộ có vườn cây ăn trái và khu cỏ

Để hình dung cách điều phối, bảng dưới là ví dụ giả định cho một hộ nuôi heo có hầm biogas, vườn cây ăn trái và một khu cỏ cho bò ở Nam Bộ, nơi có mùa mưa và mùa khô rõ. Các mốc chỉ minh hoạ nguyên tắc, không phải lịch chuẩn.

Thời kỳCây ăn tráiKhu cỏNước xả còn lại
Sau thu hoạch tráiTưới gốc nước pha loãng để cây phục hồi, ra đọtTưới sau mỗi lứa cắtPhần dư vào ao lắng
Chuẩn bị ra hoaNgưng nước xả để cây hãm đọtTưới bình thườngDồn về khu cỏ, ao lắng
Ra hoa, đậu tráiKhông dùng hoặc rất ítTưới bình thườngAo lắng giữ lại
Nuôi tráiDùng hạn chế, cân đối với phân khác theo câyTưới bình thườngMột phần cho chuối, cây hàng rào
Giữa mùa mưaKhông tưới, đất đã ẩmHạn chế, tránh ngày mưa toGiữ trong ao lắng, không để tràn
Giữa mùa khôPha loãng tưới gốc nếu cây đang ở giai đoạn cần đạmTưới đều để giữ cỏLấy từ ao lắng ra dùng

Bài học từ ví dụ: khu cỏ và cây hàng rào là nơi "tiêu thụ" nước xả ổn định quanh năm, còn cây ăn trái chỉ nhận vào những giai đoạn phù hợp. Một hộ chỉ có vườn cây ăn trái mà không có khu cỏ hay ao lắng thường lúng túng với nước xả vào mùa cây đang ra hoa.

Nếu cây ăn trái nhà mình có lịch khác, như xoài, nhãn xử lý ra hoa nghịch vụ, thì điều chỉnh lịch nước xả theo đúng giai đoạn của từng lô cây.

Những sai lầm hay gặp khi dùng nước xả biogas

Tưới nước xả nguyên chất cho rau non. Đạm dạng amoni nồng độ cao làm cháy rễ, cháy lá rau non, cây héo rũ sau vài giờ. Rau non cần pha rất loãng hoặc dùng phân ủ hoai thay thế.

Tưới lên lá rau ăn sống sát ngày thu hoạch. Mầm bệnh đường ruột và trứng giun bám trên lá có thể theo rau sống vào bữa ăn. Đây là rủi ro sức khoẻ thật, đặc biệt với rau thơm, xà lách, rau muống ăn sống.

Cho nước xả chảy tràn ra mương, ao. Đạm và lân dư làm ao nở tảo, nước thiếu ôxy, cá chết; mầm bệnh theo dòng nước lan ra nguồn nước của cả xóm. Nước xả phải có chỗ chứa, có lịch dùng.

Tưới quanh năm không nghỉ. Đất nhận quá nhiều đạm và muối từ nước xả trong thời gian dài có thể mất cân đối dinh dưỡng, cây ra đọt nhiều mà ít hoa, ít quả. Nên xen kẽ, theo dõi cây và nếu có điều kiện thì phân tích đất định kỳ.

Coi nước xả là phân đủ cho cây. Nước xả giàu đạm, kali nhưng có thể thiếu các chất khác so với nhu cầu cây đang ra hoa, nuôi quả. Coi nó như phần bổ sung, vẫn cân đối với phân khác theo giai đoạn cây.

Chứa và điều phối nước xả theo mùa

Hầm biogas xả nước ra đều đặn mỗi ngày, trong khi cây chỉ cần tưới vào một số thời điểm. Mùa mưa, đất đã ẩm, cây không cần tưới; mùa khô, cây cần nước nhưng nước xả có thể không đủ. Đây là chỗ nhiều hộ để nước xả tràn ra ngoài vì không có chỗ chứa.

Giải pháp phổ biến là có bể chứa hoặc ao lắng phía sau bể đầu ra, đủ lớn để giữ nước xả trong vài tuần mùa mưa. Ao lắng có thể trồng bèo, rau thuỷ sinh để hút bớt dinh dưỡng; bèo vớt lên làm thức ăn cho vịt, cá hoặc ủ phân. Mùa khô, nước trong ao lắng pha loãng tưới cây. Ao lắng phải có bờ chắc, cách xa giếng nước sinh hoạt, không để tràn ra kênh khi mưa lớn.

Hộ có ít đất vườn so với lượng nước xả có thể liên kết với hộ bên cạnh trồng cây lâu năm, cỏ, hoặc thoả thuận dẫn nước xả tưới cho ruộng mía, vườn chuối của người khác. Vòng tuần hoàn lúc này mở rộng ra cả xóm.

Quy định và trách nhiệm khi dùng nước thải chăn nuôi

Luật Chăn nuôi 2018 có nội dung về xử lý chất thải chăn nuôi và sử dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón, nước tưới cây trồng. Các văn bản hướng dẫn và quy chuẩn kỹ thuật quy định điều kiện để nước thải chăn nuôi được dùng tưới cây. Với hộ chăn nuôi nhỏ, tinh thần chung là chất thải phải được xử lý, không được xả thẳng ra môi trường gây ô nhiễm, và việc dùng tưới cây phải không gây hại cho người và nguồn nước.

Quy định cụ thể như thế nào, quy mô nào phải đăng ký, phải có công trình xử lý ra sao thì thay đổi theo thời gian và theo quy mô chăn nuôi. Bà con nên hỏi cán bộ nông nghiệp hoặc môi trường ở xã, nhất là khi tăng đàn hoặc khi hàng xóm có ý kiến về mùi, nước thải.

Về sức khoẻ, người tưới nước xả nên đi ủng, đeo găng, rửa tay bằng xà phòng sau khi làm; không để trẻ nhỏ nghịch nước ở bể đầu ra, ao lắng. Đây là những việc nhỏ nhưng giúp tránh các bệnh lây qua đường tiêu hoá và qua da.

Câu hỏi thường gặp

Nước xả biogas có còn mầm bệnh không?

Có. Hầm biogas nông hộ làm giảm đáng kể một phần mầm bệnh và trứng giun nhưng không tiêu diệt hết, nhất là khi hầm quá tải hoặc nạp không đều. Vì vậy nước xả cần được pha loãng, tưới gốc và hạn chế dùng cho rau ăn sống.

Pha nước xả biogas với nước theo tỷ lệ nào?

Không có tỷ lệ chung vì nồng độ nước xả mỗi hầm khác nhau. Nên bắt đầu pha thật loãng, nhất là với cây non, tưới thử vài lần và quan sát. Cây lâu năm, cỏ chịu được nồng độ cao hơn rau non. Hỏi khuyến nông địa phương để có khuyến cáo cụ thể.

Tưới nước xả biogas cho rau muống được không?

Rau muống thường ăn cả lá, có khi ăn sống, lại mọc ở chỗ ẩm nên nguy cơ mầm bệnh bám cao. Nếu dùng, chỉ tưới gốc khi rau còn nhỏ, pha loãng, ngừng đủ lâu trước thu hoạch và luôn nấu chín. An toàn hơn là dùng nước xả cho cây lâu năm, cỏ.

Tưới nước xả biogas có làm cây ăn trái chậm ra hoa không?

Có thể, nếu tưới nhiều vào giai đoạn cây cần hãm đọt để phân hoá mầm hoa. Đạm dồi dào làm cây ra lộc non liên tục. Nên dùng nước xả vào giai đoạn phục hồi sau thu hoạch, nuôi đọt, và giảm hoặc ngưng khi chuẩn bị xử lý ra hoa.

Bã đặc dưới đáy bể đầu ra dùng thế nào?

Bã đặc giàu chất hữu cơ và lân. Nên vớt ra phơi ráo hoặc trộn vào đống ủ với rơm, lá khô, ủ thêm một thời gian cho hoai rồi mới bón gốc cây. Không bón bã còn ướt, hôi trực tiếp cho rau ăn lá.

Có nên dẫn nước xả biogas thẳng xuống ao cá không?

Không nên dẫn liên tục. Lượng đạm, lân và chất hữu cơ lớn làm nước ao nở tảo, thiếu ôxy, cá dễ chết, và mầm bệnh lan theo nước. Nếu dùng cho ao, chỉ nên cho một lượng nhỏ có kiểm soát theo hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá và theo dõi màu nước.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68