TrongTrotChanNuoi.comTrồng Trọt Chăn Nuôi
Mô hình VAC và vườn – ao – chuồng

Bùn ao bón cây được không: khi nào bùn quý, khi nào bùn độc và cách xử lý

Bùn ao trong VAC là nguồn hữu cơ và dinh dưỡng tốt cho vườn nếu ao sạch nguồn thải và bùn được phơi, ủ đúng cách. Dấu hiệu bùn tốt, bùn độc và cách dùng an toàn.

Drained village fish pond with a farmer shoveling dark mud onto the bank to dry in the sun beside banana plants, overcast morning light, seen from behind

Bùn ao bón cây được, và trong mô hình VAC đây là một nguồn dinh dưỡng quý: lớp bùn đáy tích chất hữu cơ, đạm, lân từ phân cá, thức ăn thừa, lá cây rụng qua nhiều tháng. Nhưng bùn chỉ dùng an toàn khi ao không nhận nước thải công nghiệp, làng nghề hay nước thải sinh hoạt nhiều, và khi bùn được vét lên phơi hoặc ủ cho hết khí độc trước khi bón. Bùn đen, mùi trứng ung, mới vét lên mà đắp ngay vào gốc cây thường gây hại nhiều hơn lợi.

Ông bà ta xưa vẫn tát ao vét bùn đắp bờ, bón ruộng mạ, bồi gốc cây. Kinh nghiệm ấy đúng, chỉ có điều nguồn nước ngày nay khác xưa: nhiều ao làng nhận nước từ cống thải, khu chăn nuôi tập trung, xưởng sản xuất. Bài này giúp phân biệt bùn nào đáng dùng, xử lý thế nào và bón ra sao cho từng nhóm cây.

Trong bùn ao có gì

Bùn đáy ao là hỗn hợp của đất mịn trôi theo nước mưa, xác tảo, xác động vật nhỏ, phân cá, thức ăn thừa, lá cây và phân gia súc gia cầm nếu ao nhận nước từ chuồng. Qua thời gian, phần hữu cơ phân huỷ một phần trong điều kiện thiếu ôxy, tạo thành lớp bùn đen mịn. Lớp bùn này thường giàu chất hữu cơ và chứa đạm, lân, kali ở dạng cây dùng dần được, cùng nhiều vi lượng.

Mức dinh dưỡng của bùn thay đổi rất nhiều theo từng ao: ao nuôi cá có cho ăn, ao nhận nước chuồng thì bùn giàu hơn hẳn ao chỉ hứng nước mưa. Vì thế không có một con số chung cho mọi loại bùn. Nếu muốn biết chính xác, có thể gửi mẫu bùn phân tích cùng mẫu đất ở các phòng thí nghiệm nông nghiệp; còn ở quy mô nông hộ, phần lớn bà con dựa vào quan sát phản ứng của cây qua vài lần bón.

Bên cạnh chất có lợi, bùn còn có thể chứa những thứ không mong muốn: khí độc sinh ra khi phân huỷ yếm khí như hydro sunfua, mầm bệnh từ phân người và vật nuôi, hạt cỏ dại, phèn tiềm tàng ở vùng đất phèn, và trong trường hợp xấu là kim loại nặng hay hoá chất tồn dư từ nguồn thải. Phần lớn những thứ đầu có thể xử lý bằng phơi và ủ; riêng kim loại nặng thì không có cách xử lý tại vườn.

Dấu hiệu bùn có thể dùng và bùn nên tránh

Bùn có thể dùng. Ao nằm trong vườn nhà hoặc ao làng chỉ nhận nước mưa, nước ruộng; nuôi cá bình thường không có hiện tượng cá chết hàng loạt bất thường; bùn sau khi phơi chuyển màu nâu xám, hết mùi thối, bóp tơi ra được.

Bùn cần thận trọng. Ao nhận nước thải sinh hoạt từ nhiều hộ, nước từ chuồng trại tập trung hoặc lâu năm không vét; bùn rất dày, đen kịt, mùi trứng ung nồng. Loại này vẫn có thể dùng sau khi phơi ủ kỹ và chỉ bón cho cây ăn trái, cây công nghiệp, cây lấy gỗ, không bón cho rau ăn sống.

Bùn nên tránh hẳn. Ao, kênh nhận nước từ khu công nghiệp, làng nghề tái chế kim loại, nhựa, ắc quy, làng nghề dệt nhuộm, thuộc da, mạ; bùn có váng dầu, màu lạ, mùi hoá chất. Kim loại nặng tích trong bùn có thể đi vào cây trồng và chuỗi thức ăn, phơi hay ủ đều không loại bỏ được.

Bùn vùng phèn. Ở vùng đất phèn, bùn đáy mương ao có thể chứa phèn tiềm tàng. Vét lên phơi khô kiệt có thể làm phèn hoạt động, đất chua thêm. Nên vét lớp mặt, giữ bùn ẩm khi phủ và quan sát cây; hỏi kinh nghiệm cán bộ khuyến nông địa phương trước khi bồi dày.

Vét và xử lý bùn ao từng bước

Thời điểm thuận lợi nhất là sau khi thu hoạch cá, thường vào mùa khô hoặc cuối năm, khi ao có thể tháo cạn. Trình tự dưới đây là cách làm phổ biến cho ao nông hộ.

  1. Thu hết cá, tháo hoặc bơm cạn nước. Nước ao cuối cùng thường đặc, giàu dinh dưỡng, có thể dẫn tưới cho vườn cây ăn trái thay vì xả ra mương chung.
  2. Vét lớp bùn đen mềm ở đáy, giữ lại một lớp mỏng nếu ao vẫn tiếp tục nuôi cá vì lớp này giúp nước nhanh có thức ăn tự nhiên. Không vét sâu vào lớp đất nền cứng gây sạt bờ hoặc rò nước.
  3. Đưa bùn lên chỗ đất cao, thoáng, không sát giếng nước và không ở chỗ nước mưa chảy tràn về ao. Rải thành lớp không quá dày để bùn ráo và gặp không khí.
  4. Phơi cho tới khi bùn hết mùi thối, chuyển màu nâu xám, nứt nẻ và bóp tơi được. Thời gian tuỳ nắng mưa, thường vài tuần. Trong thời gian này nên đảo lớp bùn một hai lần cho đều.
  5. Với bùn từ ao nhận nước chuồng hoặc bùn quá đặc, trộn ủ cùng rơm rạ, lá cây, phân chuồng thành đống có che mưa để vi sinh vật tiếp tục phân huỷ và nhiệt độ đống ủ giảm bớt mầm bệnh, hạt cỏ.
  6. Đáy ao sau khi vét phơi nắng, xử lý theo hướng dẫn thuỷ sản trước khi lấy nước mới vào nuôi tiếp.

Kỹ thuật ủ phân hữu cơ chi tiết, như tỷ lệ phối trộn, cách đảo, chế phẩm vi sinh, là phần vật tư nông nghiệp riêng; ở đây chỉ đặt bùn ao vào đúng chỗ trong vòng VAC.

Bón bùn cho từng nhóm cây

Bùn đã xử lý có thể dùng cho hầu hết cây trồng, nhưng cách dùng và mức thận trọng khác nhau. Lượng bón không nên áp theo một con số cố định vì phụ thuộc độ giàu của bùn và đất vườn; cách an toàn là bón vừa phải rồi quan sát.

Nhóm câyCách dùng thường gặpLưu ý
Cây ăn trái, cây lâu nămRải quanh tán theo vành rễ, bồi gốc, trộn vào hố trồng mớiKhông đắp sát thân; không đắp dày một lần làm ngộp rễ
Rau ăn quả, rau ăn củTrộn vào đất khi lên luống, bón lót trước khi trồngChỉ dùng bùn đã phơi ủ kỹ; tránh bùn từ ao nhận nước thải
Rau ăn lá, rau ăn sốngBón lót trộn sâu, cách thời điểm thu hoạch đủ xaThận trọng nhất vì nguy cơ mầm bệnh; tốt nhất dùng bùn đã ủ cùng phân hoai
Ruộng mạ, cây màuRải mỏng và trộn đều trước khi gieoBùn mịn có thể làm đất bí nếu dùng quá nhiều trên đất thịt nặng
Cây trồng chậu, vườn ươmTrộn một phần với đất, tro, xơ dừa làm giá thểBùn nguyên chất khi khô đóng cứng, cần phối trộn cho tơi

Đất cát ven biển và đất bạc màu đồi núi được lợi nhiều nhất từ bùn ao vì thiếu hữu cơ và hạt mịn. Ngược lại, đất thịt nặng, đất sét ở vùng trũng đã nhiều hạt mịn, bón quá nhiều bùn có thể làm đất bí, thoát nước kém hơn.

Vì sao không đắp bùn tươi vào gốc cây

Bùn vừa vét lên đang ở trạng thái yếm khí. Khi đắp ngay một lớp dày quanh gốc, bùn bịt kín mặt đất, rễ phía dưới thiếu không khí; khí độc trong bùn chưa thoát hết có thể làm thối rễ non, cây vàng lá, có khi chết héo sau vài tuần. Bùn tươi còn ướt sũng, đè nặng lên cổ rễ, tạo điều kiện cho nấm bệnh gây thối gốc.

Nhiều nhà vườn đã gặp chuyện đắp bùn mương cho cây ăn trái rồi thấy cây suy hẳn, tưởng bùn có độc. Thật ra thủ phạm thường là cách đắp: quá dày, quá sát gốc, đúng lúc đất đang ướt. Cùng loại bùn ấy nếu để ráo, phủ mỏng ra vành tán và tránh mùa mưa dầm thì cây lại phản ứng tốt.

Một lý do khác để không dùng bùn tươi là an toàn cho người. Bùn ao nhận phân người, phân gia súc có thể mang trứng giun sán và vi khuẩn đường ruột. Khi làm việc với bùn, nên mang ủng, găng tay, rửa tay chân kỹ sau khi làm. Người có vết thương hở ở chân tay nên tránh tiếp xúc trực tiếp.

Đặt bùn ao vào đúng nhịp của vòng VAC

Trong một vườn VAC, bùn ao không phải việc làm một lần khi ao quá nông, mà là một nhịp hàng năm hoặc vài năm một lần. Ao nuôi cá có cho ăn tích bùn nhanh hơn; ao chỉ hứng nước mưa tích chậm hơn. Khi lớp bùn quá dày, nước ao dễ thiếu ôxy, cá hay nổi đầu, bệnh nhiều, nên vét bùn cũng là việc giữ cho ao khoẻ chứ không chỉ để lấy phân.

Lịch hợp lý thường là thu cá vào cuối năm hoặc mùa khô, vét bùn ngay sau đó, phơi bùn trong những tuần nắng, rồi dùng bùn đã xử lý bón lót cho vườn trước mùa mưa hoặc trước vụ trồng mới. Như vậy dòng chất dinh dưỡng từ chuồng qua ao, qua bùn rồi về vườn khép lại trong một năm.

Hộ nào thấy ao năm nào cũng ra bùn đen đặc, mùi nồng thì đó là tín hiệu ao đang nhận nhiều chất thải hơn khả năng tự làm sạch. Cách sửa không phải là vét nhiều hơn mà là giảm chất thải từ chuồng đổ vào ao, giảm cho cá ăn dư, và xem lại quy mô chuồng so với ao.

Nước ao cũng là phân: tưới vườn bằng nước ao

Bùn chỉ là phần lắng; phần nước phía trên cũng mang dinh dưỡng. Nước ao nuôi cá có màu xanh nõn chuối là nước có nhiều tảo và chất dinh dưỡng hoà tan, khi tưới cho cây ăn trái và rau ăn quả sẽ bổ sung thêm một lượng phân loãng đều đặn. Trong VAC, mùa khô dùng nước ao tưới vườn vừa giải bài toán nước vừa đưa dinh dưỡng từ ao về vườn mà không tốn công vét.

Có vài điều cần để ý. Nước ao vừa nhận nhiều nước thải chuồng, có mùi hôi hoặc váng bọt thì không nên tưới trực tiếp lên lá rau ăn sống, chỉ tưới gốc cây lâu năm. Ao vừa xử lý hoá chất cho cá theo hướng dẫn thuỷ sản thì chờ hết thời gian khuyến cáo rồi mới lấy nước tưới. Nước ao vùng ven biển mùa khô có thể đã lợ, cần nếm thử hoặc đo trước khi tưới cho cây nhạy mặn.

Khi tháo cạn ao để thu cá, lớp nước cuối cùng đặc nhất, nhiều chất hữu cơ nhất. Thay vì xả ra mương chung, nhiều hộ dẫn phần nước này vào các rãnh giữa hàng cây ăn trái hoặc ruộng màu gần ao. Vừa tận dụng được dinh dưỡng, vừa tránh làm ô nhiễm kênh mương của cả xóm, đúng tinh thần giữ chất thải ở lại trong vòng của nông hộ.

Câu hỏi thường gặp

Bùn ao có thay được phân chuồng không?

Bùn ao và phân chuồng đều là nguồn hữu cơ nhưng bùn thường chứa nhiều đất mịn hơn và độ giàu dinh dưỡng không ổn định. Trong VAC, hai nguồn bổ sung cho nhau: phân chuồng giàu dinh dưỡng hơn, bùn ao giúp tăng hạt mịn, giữ nước cho đất nhẹ. Dùng phối hợp thường tốt hơn dùng riêng một loại.

Phơi bùn bao lâu thì dùng được?

Không có số ngày cố định vì phụ thuộc nắng mưa và độ dày lớp bùn. Dấu hiệu dùng được là bùn hết mùi thối, chuyển từ đen sang nâu xám, khô nứt và bóp tơi ra được. Nếu trời mưa nhiều nên che bạt hoặc trộn ủ với rơm rạ, lá cây cho nhanh khô và thoáng.

Bùn từ kênh mương chung có dùng được không?

Cần biết kênh nhận nước từ đâu. Kênh nội đồng chỉ dẫn nước ruộng thì bùn tương tự bùn ao. Kênh chạy qua khu dân cư đông, khu công nghiệp, làng nghề có thể chứa nước thải và kim loại nặng, không nên dùng bón cây, nhất là cây ăn được. Không chắc thì không dùng.

Bón bùn ao cho rau có an toàn không?

Có thể an toàn nếu bùn lấy từ ao sạch nguồn thải và đã phơi ủ kỹ, bón lót trộn vào đất trước khi trồng. Rau ăn lá ăn sống là nhóm cần thận trọng nhất vì nguy cơ mầm bệnh. Không dùng bùn tươi hoặc bùn từ ao nhận nước thải sinh hoạt để bón cho rau.

Bùn ao có làm đất chua không?

Phần lớn bùn ao sau khi phơi ủ không làm đất chua đáng kể. Riêng vùng đất phèn, bùn đáy có thể chứa phèn tiềm tàng; khi phơi khô kiệt, phèn bị ôxy hoá sinh chất chua làm đất chua thêm. Vùng này nên vét lớp mặt, giữ bùn ẩm khi dùng và theo dõi độ chua của đất.

Có cần vét hết bùn khi cải tạo ao không?

Không cần vét sạch. Nếu ao tiếp tục nuôi cá, giữ lại một lớp bùn mỏng giúp nước nhanh có thức ăn tự nhiên và hệ vi sinh vật. Vét quá sâu vào lớp đất nền dễ làm rò nước và sạt bờ. Chỉ vét lớp bùn đen mềm tích lâu năm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68