Ngưỡng phòng trừ (còn gọi ngưỡng kinh tế hay ngưỡng hành động) là mật độ sâu hại hoặc mức độ bệnh mà từ đó nếu không xử lý, thiệt hại dự kiến sẽ lớn hơn chi phí xử lý. Dưới ngưỡng, sâu có mặt nhưng phun thuốc là lỗ: tiền thuốc, công phun và thiên địch bị giết đều tốn hơn phần lúa, phần rau mà con sâu ăn mất. Trên ngưỡng mới là lúc cân nhắc biện pháp can thiệp.
Khái niệm này nghe như sổ sách, nhưng nó là trái tim của IPM. Bài này giải thích ngưỡng được xác lập từ đâu, vì sao cùng một con sâu mà ngưỡng thay đổi theo giai đoạn cây, khả năng tự bù của cây trồng, vai trò của thiên địch trong quyết định, và cách bà con áp ngưỡng trên ruộng mà không cần máy móc. Nhận diện từng loài sâu như rầy nâu, sâu cuốn lá đã có hướng dẫn riêng ở các trang kỹ thuật chuyên về sâu bệnh; ở đây bàn cách nghĩ khi ra quyết định.
Mức gây hại kinh tế và ngưỡng hành động: hai con số khác nhau
Các nhà côn trùng học tách hai khái niệm. Mức gây hại kinh tế là mật độ sâu mà tại đó giá trị thiệt hại bằng đúng chi phí phòng trừ. Ngưỡng hành động thấp hơn mức đó một chút, vì từ lúc quyết định đến lúc biện pháp phát huy tác dụng cần thời gian, trong khi sâu vẫn tiếp tục sinh sôi. Hành động ở ngưỡng hành động để sâu không kịp chạm mức gây hại kinh tế.
Hai con số này không cố định. Giá nông sản cao thì thiệt hại mỗi kg lớn hơn, ngưỡng hạ xuống; chi phí phòng trừ cao thì ngưỡng nâng lên. Giống chống chịu tốt, cây khoẻ, thiên địch đông thì ngưỡng cũng nâng lên. Vì vậy ngưỡng trong tài liệu hướng dẫn luôn là con số tham khảo cho một vùng, một giai đoạn, không phải luật cứng áp cho mọi ruộng.
Ở Việt Nam, ngưỡng cho các dịch hại chính trên lúa, rau, cây ăn trái được nêu trong quy chuẩn và tài liệu hướng dẫn điều tra phát hiện dịch hại của ngành bảo vệ thực vật, cập nhật theo từng thời kỳ. Bà con nên hỏi chi cục hoặc trạm khuyến nông con số đang áp ở địa phương, không chép ngưỡng của vùng khác, vụ khác.
Cây trồng tự bù lại thiệt hại đến đâu
Một lý do lớn khiến "thấy sâu là phun" sai là cây trồng không thụ động. Cây lúa giai đoạn đẻ nhánh có nhiều lá hơn mức cần cho năng suất cuối cùng; khi một phần lá bị sâu cuốn lá ăn, cây đẻ thêm nhánh, ra lá mới và bù lại. Các thí nghiệm cắt lá nhân tạo của IRRI và các viện lúa trong vùng cho thấy lúa giai đoạn đầu chịu được mất lá khá nhiều mà năng suất hầu như không đổi. Ngược lại, lá đòng và hai lá dưới nó ở giai đoạn làm đòng – trổ quyết định phần lớn hạt chắc, mất lá lúc này gây hại thật.
Từ hiểu biết đó, ở đồng bằng sông Cửu Long từ thập niên 1990 đã có chiến dịch khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu trong khoảng 40 ngày đầu sau sạ, trừ khi có dịch hại đặc biệt. Kết quả ghi nhận được là số lần phun giảm mà năng suất không giảm, thiên địch có thời gian xây dựng quần thể trước giai đoạn lúa nhạy cảm.
Rau và cây ăn trái cũng có giai đoạn chịu được và giai đoạn nhạy cảm. Cây cải bị bọ nhảy ăn lỗ trên lá già khác với bị sâu ăn đọt non lúc mới trồng. Cây xoài chịu được một ít rầy lúc lá già, nhưng rầy chích hút lúc ra hoa có thể làm rụng cả chùm. Câu hỏi đầu tiên khi thấy dịch hại vì vậy luôn là: cây đang ở giai đoạn nào, phần bị hại có quyết định năng suất không.
Cùng một dịch hại, quyết định khác nhau theo giai đoạn
Bảng minh hoạ cách nghĩ, không phải ngưỡng chính thức. Con số và quyết định thực tế theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật tại địa phương.
| Tình huống trên đồng | Giai đoạn cây | Hướng quyết định theo IPM |
|---|---|---|
| Sâu cuốn lá ăn rải rác, nhiều nhện và bọ rùa | Lúa đẻ nhánh | Chưa phun, thăm lại sau vài ngày, ghi số liệu |
| Sâu cuốn lá non mật độ cao, lá đòng bắt đầu bị cuốn | Lúa làm đòng | Báo cán bộ bảo vệ thực vật, cân nhắc xử lý chọn lọc |
| Rầy nâu ít, nhện và bọ xít mù xanh nhiều | Lúa đứng cái | Theo dõi, tỷ lệ thiên địch cao có thể kìm rầy |
| Rầy nâu đông dày ở gốc, cây vàng từng chòm | Lúa ngậm sữa | Xử lý theo hướng dẫn, rút nước, khoanh vùng sớm |
| Vài lá cải bị bọ nhảy ăn lỗ | Cải sắp thu hoạch | Không cần phun, thu hoạch theo kế hoạch |
| Rệp sáp rải rác ở vài cành | Cây có múi nuôi trái | Cắt bỏ cành, kiểm tra kiến cộng sinh, theo dõi lan |
Điều bảng muốn nói: con số sâu đếm được chỉ là một nửa dữ kiện. Nửa còn lại là giai đoạn cây, sức khoẻ cây và số thiên địch đang có mặt.
Giai đoạn nhạy cảm theo nhóm cây
Ngưỡng hạ thấp ở giai đoạn phần bị hại quyết định trực tiếp năng suất, nâng lên ở giai đoạn cây còn bù được. Khung tham khảo, tuỳ giống và vùng:
| Nhóm cây | Giai đoạn cây chịu đựng tốt hơn | Giai đoạn nhạy cảm, theo dõi dày |
|---|---|---|
| Lúa | Đẻ nhánh, lá còn nhiều | Làm đòng, trổ, ngậm sữa (lá đòng, bông) |
| Rau ăn lá | Lá già sắp thu, cây đã lớn | Cây con mới trồng, đọt non |
| Rau ăn quả (cà chua, dưa) | Thân lá phát triển mạnh | Ra hoa, đậu quả, quả non |
| Cây ăn trái | Lá già sau thu hoạch | Ra đọt non, ra hoa, đậu quả non |
| Cà phê, hồ tiêu | Mùa khô khi cây nghỉ | Đầu mùa mưa, ra hoa, nuôi quả, giai đoạn rễ non mới bung |
Ở giai đoạn chịu đựng tốt, bà con có thể chờ và để thiên địch làm việc. Ở giai đoạn nhạy cảm, nên thăm dày hơn, hai ba ngày một lần nếu thời tiết thuận cho dịch hại, và chuẩn bị sẵn phương án.
Một chi tiết thực tế: lúc cây nhạy cảm cũng thường là lúc bà con bận nhất (cấy, thu hoạch vụ khác, ra hoa đồng loạt). Ghi trước vào lịch những tuần cần thăm đồng dày giúp không bỏ sót. Nhiều tổ hợp tác chia nhau thăm đồng giúp nhau trong những tuần này, mỗi người phụ trách một khu rồi báo chung cho cả nhóm.
Thiên địch cũng là một con số trong phép tính
Hướng dẫn IPM hiện đại không chỉ đếm sâu mà đếm cả thiên địch. Trên ruộng lúa, nếu mỗi khóm có nhiều nhện sói, bọ xít mù xanh, bọ rùa đỏ, khả năng chúng kìm được rầy non trong vài ngày tới là cao. Một số tài liệu hướng dẫn đưa ra tỷ lệ thiên địch trên sâu hại để điều chỉnh quyết định; nguyên tắc chung là thiên địch càng đông, càng nên chờ và thăm lại.
Quan sát trứng sâu cũng cho nhiều thông tin. Ổ trứng sâu đục thân hay sâu cuốn lá đã chuyển màu đen thường là trứng bị ong ký sinh, sẽ không nở ra sâu. Nếu phần lớn ổ trứng thấy được đều như vậy, phun thuốc lúc này vừa vô ích vừa giết luôn lứa ong đang nở.
Bà con hay bỏ qua bước này vì thiên địch nhỏ, khó thấy, và vì người bán thuốc ít khi hỏi đến. Nhưng chính nó làm khác biệt giữa ruộng IPM và ruộng phun theo lịch: ruộng IPM "thuê" được một đội quân không lương, còn ruộng phun theo lịch tự sa thải đội quân ấy.
Những sai lệch hay gặp khi đếm và đọc ngưỡng
Sai lệch thứ nhất là chỉ nhìn ở bờ. Rầy nâu thường dày ở giữa ruộng, nơi kín gió và ẩm, còn ven bờ thoáng ít rầy hơn; ngược lại một số sâu tập trung ở mép ruộng gần đèn hay gần bụi rậm. Đếm ở bờ dễ đánh giá sai cả hai chiều.
Sai lệch thứ hai là đếm vào giờ không thích hợp. Nhiều loài sâu trốn nắng giữa trưa, xuống gốc hoặc nằm trong lá cuốn, buổi sáng sớm hay chiều mát dễ thấy hơn. Giữ cùng một khung giờ qua các lần thăm để số liệu so sánh được với nhau.
Sai lệch thứ ba là nhầm triệu chứng cũ với dịch hại đang hoạt động. Lá lúa bị cuốn trắng có thể là vết từ lứa sâu đã hoá nhộng và bay đi; vết đốm đã khô có thể là bệnh đã dừng. Bóc lá cuốn ra xem còn sâu non không, xem vết bệnh có viền mới lan không, rồi mới tính.
Cách áp ngưỡng trên ruộng nhà mình
Không cần tính toán phức tạp. Một quy trình thăm đồng ra quyết định gọn cho nông hộ:
- Đi theo đường chéo góc của thửa ruộng hoặc theo hình chữ Z trong vườn, dừng ở nhiều điểm rải đều, không chỉ nhìn ở bờ.
- Ở mỗi điểm, quan sát một số khóm lúa hoặc một số cây cố định, đếm sâu hại chính và thiên địch thấy được, ghi vào sổ.
- Ghi giai đoạn sinh trưởng, màu lá, tình trạng nước, thời tiết vài ngày tới theo bản tin khí tượng nông nghiệp.
- So với ngưỡng tham khảo của địa phương cho đúng giai đoạn đó. Dưới ngưỡng: hẹn ngày thăm lại. Gần ngưỡng: thăm dày hơn, chuẩn bị biện pháp. Trên ngưỡng: hỏi cán bộ bảo vệ thực vật, chọn biện pháp ít hại thiên địch nhất.
- Nếu buộc phải xử lý, khoanh đúng chòm, đúng góc ruộng bị nặng nếu được, không phun tràn cả cánh đồng.
- Sau xử lý vài ngày, thăm lại để xem hiệu quả và ghi vào sổ cho vụ sau.
Sổ ghi qua nhiều vụ giúp bà con thấy quy luật riêng của thửa ruộng mình: góc nào hay có rầy, tháng nào sâu cuốn lá lên, giống nào ít bệnh. Đó là thứ không tài liệu chung nào thay được.
Khi nào không chờ ngưỡng
Có những tình huống IPM không chờ đến ngưỡng mật độ. Bệnh lây lan nhanh theo thời tiết như đạo ôn khi trời âm u, sương nhiều, giống nhiễm, bón thừa đạm thường được xử lý theo dự báo nguy cơ chứ không đợi vết bệnh dày. Bệnh do virus truyền qua côn trùng, như vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu truyền, cũng được quản lý theo hướng ngăn từ sớm vì cây đã nhiễm là không chữa được.
Dịch hại kiểm dịch hoặc mới xâm nhập vào vùng cũng phải báo ngay cho cơ quan bảo vệ thực vật, không tự xử lý theo ngưỡng thông thường. Ví dụ những loài sâu mới xuất hiện trên ngô trong những năm gần đây được ngành bảo vệ thực vật hướng dẫn riêng.
Trong mọi trường hợp, ngưỡng là công cụ giúp quyết định, không phải lý do để bỏ mặc. Ruộng có nhiều yếu tố nguy cơ cộng lại, như giống nhiễm, gieo muộn hơn cả cánh đồng, thời tiết thuận lợi cho dịch, cần được thăm dày và sẵn sàng hành động sớm hơn.
Câu hỏi thường gặp
Ngưỡng phòng trừ có phải con số cố định cho mọi vùng?
Không. Ngưỡng thay đổi theo giống, giai đoạn cây, vùng sinh thái, giá nông sản và chi phí phòng trừ. Con số trong tài liệu là tham khảo cho điều kiện trung bình. Bà con nên hỏi chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật về ngưỡng đang khuyến cáo cho vùng và vụ của mình.
Vì sao khuyến cáo không phun thuốc trừ sâu giai đoạn đầu vụ lúa?
Vì lúa giai đoạn đầu có khả năng bù lá rất tốt, còn thiên địch cần thời gian để xây dựng quần thể. Phun sớm thường giết nhện và bọ xít mù xanh trước, tạo điều kiện cho rầy nâu bùng phát vào giữa vụ, đúng lúc lúa nhạy cảm nhất.
Đếm sâu bao nhiêu điểm thì đủ tin?
Càng nhiều điểm rải đều càng sát thực tế. Tài liệu điều tra của ngành bảo vệ thực vật quy định số điểm và cách lấy cho từng cây. Với nông hộ, quan trọng là đi khắp thửa theo đường chéo, không chỉ nhìn ven bờ, và giữ cùng một cách đếm qua các lần thăm để so sánh.
Thấy trứng sâu thì có nên phun diệt trứng luôn không?
Nên quan sát trước. Ổ trứng chuyển đen thường đã bị ong ký sinh, sẽ không nở ra sâu. Phun lúc này giết ong và lãng phí. Nếu trứng còn tươi, nhiều và cây đang ở giai đoạn nhạy cảm, hỏi cán bộ bảo vệ thực vật về thời điểm xử lý hợp lý.
Ngưỡng có áp dụng cho bệnh hại không?
Có, nhưng bệnh thường được quản lý theo nguy cơ hơn là theo mật độ. Bệnh lây nhanh khi thời tiết thuận lợi, như đạo ôn, sương mai, được xử lý dựa vào giống, thời tiết và vết bệnh mới chớm. Bệnh virus do côn trùng truyền thì quản lý côn trùng môi giới từ sớm.
Không có tài liệu ngưỡng thì làm sao quyết định?
Dựa vào ba câu hỏi: cây đang ở giai đoạn nào, phần bị hại có quyết định năng suất không, thiên địch có đông không. Kèm theo sổ ghi các lần thăm để thấy sâu đang tăng hay giảm. Khi còn phân vân, chụp ảnh và hỏi cán bộ khuyến nông trước khi mua thuốc.