"3 giảm 3 tăng" là giảm lượng giống, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật để tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả; "1 phải 5 giảm" thêm một điều bắt buộc là phải dùng giống xác nhận và mở rộng ra giảm giống, giảm phân, giảm thuốc, giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch. Cả hai được ngành nông nghiệp khuyến cáo ở đồng bằng sông Cửu Long từ đầu những năm 2000 và cuối những năm 2000, và đều đứng trên nền IPM: ruộng thưa, cây khoẻ, ít đạm thì ít sâu bệnh, nên giảm thuốc mà không mất mùa.
Phần lớn bài giới thiệu hai gói kỹ thuật này nói về chi phí. Bài này đi theo góc dịch hại: vì sao mỗi chữ "giảm" lại làm ruộng ít rầy, ít bệnh hơn, ba chữ ấy liên kết với nhau thế nào, và những chỗ bà con hay làm sai khiến "giảm" thành "mất". Cách tính lượng giống, chia lần bón, sạ thưa thực hành từng bước đã có ở các trang chuyên về vật tư và mùa vụ; ở đây tập trung vào cơ chế.
Hai gói kỹ thuật ra đời từ đâu
"3 giảm 3 tăng" được xây dựng từ các mô hình hợp tác giữa ngành bảo vệ thực vật Việt Nam và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế, rồi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật vào giữa thập niên 2000. Nó kế thừa thẳng những bài học IPM thập niên 1990: không phun sớm, bón đạm hợp lý, gieo thưa.
"1 phải 5 giảm" xuất hiện sau đó, ban đầu ở An Giang và các tỉnh lân cận (An Giang nay hợp nhất với Kiên Giang thành tỉnh An Giang mới), rồi được nhân rộng. Chữ "phải" đặt lên đầu là giống xác nhận, vì giống lẫn tạp, mang mầm bệnh là gốc của nhiều rắc rối về sâu bệnh và chất lượng hạt. Thêm "giảm nước" gắn với tưới ngập khô xen kẽ, "giảm thất thoát" gắn với thu hoạch và sau thu hoạch.
Tên gọi và chi tiết có thay đổi theo thời gian; nay các nguyên tắc này được lồng vào các chương trình lúa chất lượng cao, giảm phát thải. Văn bản và quy trình hiện hành bà con hỏi trạm khuyến nông hoặc chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật để có bản cập nhật cho vùng mình.
Giảm giống: ruộng thưa là ruộng khó cho rầy và bệnh
Vi khí hậu trong ruộng. Ruộng sạ dày làm tán lúa khép sớm, gốc lúa ẩm, ít nắng, ít gió. Đó là môi trường rầy nâu ưa thích và là điều kiện để nấm khô vằn, đạo ôn phát triển. Ruộng thưa thông thoáng hơn, độ ẩm gốc lúa thấp hơn, nắng chiếu tới gốc.
Cây khoẻ, thân cứng. Mỗi cây trong ruộng thưa có nhiều không gian, ánh sáng và dinh dưỡng hơn, nên đẻ nhánh hữu hiệu tốt, thân cứng, ít đổ ngã. Lúa đổ là mảnh đất của bệnh và chuột.
Dễ thăm đồng. Ruộng thưa cho phép vạch gốc nhìn rầy, đếm thiên địch, phát hiện vết bệnh sớm. Ruộng dày khiến người thăm đồng chỉ nhìn được mặt tán, dễ bỏ sót rầy dưới gốc cho đến khi lúa cháy chòm.
Ít nhánh vô hiệu. Sạ dày tạo nhiều nhánh vô hiệu, không cho bông, nhưng vẫn là chỗ trú và thức ăn của sâu bệnh suốt giai đoạn đầu.
Giới hạn. Giảm giống quá mức ở ruộng mặt bằng không phẳng, ốc bươu vàng nhiều, chuột nhiều thì dễ hụt cây. Giảm giống đi cùng với làm đất kỹ, san phẳng và quản lý ốc từ đầu.
Giảm đạm: lá xanh đậm là bữa tiệc của sâu bệnh
Đạm làm lá lúa xanh, to, mềm và mọng nước. Với mắt người đó là lúa "tốt"; với rầy nâu, sâu cuốn lá và nấm đạo ôn đó là thức ăn dễ tiêu, giàu dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rầy nâu đẻ nhiều trứng hơn, sống lâu hơn trên cây bón nhiều đạm; nấm đạo ôn xâm nhiễm dễ hơn vào mô lá non mềm. Ruộng bón thừa đạm thường là ruộng đầu tiên trong cánh đồng bị rầy, bị đạo ôn.
Thừa đạm còn làm lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, tán dày, thân yếu dễ đổ, chín không đều. Tất cả quay về vi khí hậu ẩm và cây yếu đã nói ở trên. Vì vậy giảm đạm không chỉ để bớt tiền phân mà là một biện pháp phòng dịch hại trực tiếp.
Giảm đạm đúng nghĩa là bón vừa đủ theo nhu cầu cây ở từng giai đoạn, không phải cắt đạm tuỳ tiện. Nhiều địa phương hướng dẫn dùng bảng so màu lá lúa để bón đạm khi lá nhạt hơn ngưỡng, thay vì bón theo lịch cố định. Cách tính lượng phân nguyên chất và chia lần bón cụ thể có trong tài liệu khuyến nông; điều cần nhớ ở đây là màu lá xanh thẫm giữa vụ là dấu hiệu nên cảnh giác với rầy và đạo ôn, không phải dấu hiệu lúa sắp được mùa.
Giảm thuốc: hệ quả của hai chữ giảm trước, không phải điểm bắt đầu
Một lỗi phổ biến là hiểu "giảm thuốc" như một mệnh lệnh: cứ phun ít đi. Trong logic của hai gói kỹ thuật, giảm thuốc là kết quả. Ruộng giống sạch, gieo thưa, bón đạm vừa thì sâu bệnh tự nhiên ít hơn; cộng với không phun sớm để thiên địch phát triển thì nhu cầu phun giảm xuống. Nếu vẫn sạ dày, bón đạm nhiều mà cắt thuốc thì rủi ro mất mùa là thật.
Giảm thuốc cũng là giảm số lần phun phổ rộng không cần thiết, nhất là phun phòng theo lịch, phun hỗn hợp nhiều loại một lúc "cho chắc ăn". Những lần phun này tốn kém, giết thiên địch và tạo áp lực kháng thuốc. Khi cần phun, chọn đúng thuốc cho đúng đối tượng theo hướng dẫn của cán bộ bảo vệ thực vật.
Bằng chứng từ các mô hình trình diễn cho thấy ruộng áp dụng đồng bộ các chữ giảm thường cắt được nhiều lần phun mỗi vụ so với ruộng nông dân lân cận. Mức giảm cụ thể khác nhau theo vụ, theo áp lực dịch hại từng năm, nên bà con nên đối chiếu với số liệu mô hình tại xã, tại hợp tác xã mình.
Giảm nước và giảm thất thoát: hai chữ ít được để ý
Tưới ngập khô xen kẽ, tức để mặt ruộng khô se rồi mới cho nước vào lại ở những giai đoạn lúa chịu được, thường được nói đến vì tiết kiệm nước và giảm phát thải khí mê-tan. Ở góc dịch hại, những đợt ruộng khô làm gốc lúa thoáng, độ ẩm quanh gốc giảm, bất lợi cho rầy nâu và nấm khô vằn; rễ lúa ăn sâu hơn, cây cứng cây hơn. Ngược lại, ruộng ngập sâu liên tục cả vụ tạo môi trường ẩm ấm quanh gốc mà rầy rất ưa.
Giảm thất thoát sau thu hoạch nghe như chuyện của kho, nhưng cũng dính tới dịch hại vụ sau. Lúa rơi rụng nhiều khi gặt trễ hay máy gặt chỉnh sai là nguồn thức ăn nuôi chuột qua giai đoạn ruộng trống, và mọc thành lúa chét, lúa rài mang mầm bệnh, rầy sang vụ kế tiếp. Gặt đúng độ chín, cày vùi gốc rạ hoặc xử lý rơm rạ thay vì đốt, để ruộng nghỉ một khoảng giữa hai vụ là cách cắt "cầu nối" của dịch hại giữa các vụ.
Từng chữ trong "1 phải 5 giảm" tác động tới dịch hại thế nào
Mỗi chữ có mục tiêu riêng, nhưng đều cộng vào sức khoẻ ruộng lúa. Bảng tổng hợp theo góc dịch hại:
| Nội dung | Tác động tới dịch hại | Lưu ý khi làm |
|---|---|---|
| Phải dùng giống xác nhận | Hạt sạch mầm bệnh, ít lẫn lúa cỏ, cây đồng đều dễ theo dõi | Chọn giống hợp vùng, có tính chống chịu dịch hại chính |
| Giảm lượng giống | Ruộng thông thoáng, ít ẩm gốc, ít rầy và khô vằn | Cần mặt ruộng phẳng, quản lý ốc tốt |
| Giảm phân (nhất là đạm) | Lá cứng, ít hấp dẫn rầy, sâu cuốn lá, ít đạo ôn | Bón theo nhu cầu, theo màu lá |
| Giảm thuốc | Giữ thiên địch, chậm kháng thuốc | Không phun sớm, phun khi thật cần |
| Giảm nước (ngập khô xen kẽ) | Gốc lúa thoáng, giảm rầy và một số bệnh, rễ khoẻ | Giữ nước ở giai đoạn trổ, nơi đất phèn cần thận trọng |
| Giảm thất thoát sau thu hoạch | Ít hạt rơi rụng nuôi chuột, chim và lúa chét mang mầm bệnh | Gặt đúng độ chín, phơi sấy kịp |
Đọc theo hàng dọc thì thấy cả sáu nội dung đều quy về một ý: làm cho cây lúa khoẻ và ruộng lúa khó cho dịch hại, để thuốc chỉ còn là phương án dự phòng.
Những chỗ hay làm sai
Hai gói kỹ thuật này đơn giản trên giấy nhưng dễ bị làm nửa vời. Các lỗi thường gặp:
- Giảm giống nhưng làm đất qua loa, mặt ruộng gồ ghề, chỗ trũng ngập chết mầm, chỗ cao cỏ mọc, rồi sạ dặm lại thành dày.
- Giảm đạm đầu vụ nhưng bón dồn đạm giữa vụ khi thấy lúa "kém xanh" so với ruộng bên, đúng giai đoạn rầy và đạo ôn bùng.
- Giảm số lần phun nhưng mỗi lần pha hỗn hợp nhiều loại thuốc, liều cao hơn khuyến cáo.
- Rút nước khô ruộng đúng lịch nhưng không để ý đất phèn, làm phèn bốc lên gây ngộ độc cho lúa.
- Một hộ áp dụng giữa cánh đồng gieo sạ không đồng loạt, rầy từ ruộng sạ sớm, sạ muộn bay qua liên tục.
Cách tránh chung là áp dụng trọn gói, theo cánh đồng và có cán bộ kỹ thuật theo dõi vụ đầu. Hợp tác xã và tổ hợp tác thường là đơn vị triển khai hiệu quả nhất.
Áp dụng ở vùng ngoài đồng bằng sông Cửu Long
Hai gói kỹ thuật được xây dựng cho lúa sạ ở miền Tây, nhưng nguyên lý dùng được ở nơi khác. Đồng bằng sông Hồng chủ yếu cấy, nên "giảm giống" chuyển thành cấy thưa, cấy mạ non ít dảnh, như trong hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI mà nhiều tỉnh phía Bắc đã thử nghiệm. Ruộng cấy thưa thông thoáng hơn, cùng tác động lên rầy và khô vằn.
Ở Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, nguồn nước tưới hạn chế làm "giảm nước" có ý nghĩa thực tế hơn, nhưng phải tránh để ruộng khô nứt vào giai đoạn làm đòng – trổ. Ở vùng ruộng bậc thang miền núi, giảm đạm và dùng giống phù hợp quan trọng hơn giảm giống, vì cây lúa ở đó thường đã được cấy thưa theo tập quán.
Dù ở vùng nào, nguyên tắc chuyển đổi là giữ đúng tinh thần chứ không chép con số. Lượng giống, lượng đạm, lịch tháo nước của miền Tây không dùng nguyên cho ruộng cấy miền Bắc hay ruộng bậc thang Tây Bắc. Bà con lấy quy trình của tỉnh mình làm gốc, rồi điều chỉnh dần theo sổ ghi thăm đồng qua từng vụ.
Câu hỏi thường gặp
"1 phải 5 giảm" khác "3 giảm 3 tăng" ở điểm nào?
"3 giảm 3 tăng" tập trung vào giảm giống, giảm đạm, giảm thuốc. "1 phải 5 giảm" bổ sung điều bắt buộc dùng giống xác nhận, và thêm giảm nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch. Về bản chất, gói sau kế thừa gói trước và mở rộng ra cả khâu nước và thu hoạch.
Giảm giống có làm ruộng nhiều cỏ hơn không?
Có nguy cơ nếu làm đất kém và quản lý nước không tốt, vì ruộng thưa để lộ mặt đất lâu hơn. Biện pháp đi kèm là san phẳng mặt ruộng, giữ nước sớm ở mức thích hợp sau khi lúa bén rễ và dùng giống sạch không lẫn hạt cỏ. Hỏi cán bộ khuyến nông về cách quản lý cỏ cho ruộng sạ thưa.
Vì sao bón nhiều đạm lại dễ bị rầy nâu?
Lá lúa nhiều đạm mềm và giàu dinh dưỡng hơn, rầy nâu chích hút dễ hơn, đẻ nhiều trứng hơn. Ruộng thừa đạm cũng có tán dày, gốc ẩm, đúng nơi rầy thích sống. Đây là lý do ruộng xanh thẫm nhất cánh đồng thường bị rầy trước.
Ruộng nhỏ, cấy tay có áp dụng được không?
Được. Nguyên lý giống sạch, cấy thưa, bón đạm vừa, không phun sớm, quản lý nước hợp lý áp dụng được ở mọi quy mô. Ruộng nhỏ còn thuận lợi vì thăm đồng kỹ hơn. Các chương trình cấy lúa cải tiến ở miền Bắc là ví dụ cho ruộng nhỏ.
Áp dụng các chữ giảm có được hỗ trợ gì không?
Tuỳ địa phương và từng thời kỳ. Một số chương trình, dự án hỗ trợ giống xác nhận, tập huấn hoặc liên kết bao tiêu cho hộ tham gia. Bà con hỏi uỷ ban xã, trạm khuyến nông hoặc hợp tác xã nông nghiệp để biết chương trình đang có.