Trồng sắn mà không làm bạc đất cần bốn việc: dùng hom sạch bệnh từ ruộng không có khảm lá, trồng theo hàng ngang dốc (đường đồng mức) với băng cây chắn đất, xen cây họ đậu hoặc giữ lớp phủ trong những tháng đầu khi tán sắn chưa khép, và trả lại cho đất phần dinh dưỡng mà củ sắn mang đi, đặc biệt là kali. Thiếu những việc này, đất trồng sắn liên tục thường nghèo dần, xói mòn, năng suất giảm qua từng vụ.
Sắn, miền Nam gọi là khoai mì, là cây dễ trồng, chịu hạn, chịu đất nghèo, nên được trồng rộng ở Tây Ninh, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và miền núi phía Bắc. Chính vì "dễ" mà sắn hay bị trồng theo kiểu lấy hết rồi bỏ, để lại những sườn đồi bạc trắng. Bài này đi theo đời cây sắn, chỉ ra chỗ hao đất, và cách làm cho đất còn trồng được lâu dài. Phần chế biến, tiêu thụ sắn không bàn ở đây.
Vì sao sắn bị gắn với chuyện bạc đất
Cây sắn tự nó không "độc" với đất. Vấn đề nằm ở ba điểm. Thứ nhất, sắn sinh khối lớn và phần lớn sinh khối đó là củ mang ra khỏi ruộng; củ sắn lấy đi một lượng kali rất đáng kể cùng đạm, lân. Nếu thân lá cũng mang đi hoặc đốt, còn không trả lại gì, đất sẽ nghèo dần, kali hụt trước.
Thứ hai, sắn mọc chậm trong vài tháng đầu, tán chưa khép, đất trống giữa hàng hứng trọn những trận mưa đầu mùa. Trên đất dốc, đó là lúc đất mặt bị cuốn đi nhiều nhất. Thứ ba, khi thu hoạch, người ta đào xới toàn bộ lớp đất mặt để lấy củ, làm đất tơi rời, dễ trôi nếu gặp mưa trái mùa.
Ghép ba điểm lại: lấy đi nhiều, che phủ kém lúc đầu, xới tung lúc cuối. Nhưng cả ba đều có cách khắc phục bằng canh tác. Các chương trình nghiên cứu sắn ở châu Á, trong đó có Việt Nam, từ những năm 1990 đã thử nghiệm và khuyến cáo trồng theo đường đồng mức, băng cây chắn, xen cây họ đậu và bón cân đối như những biện pháp giữ đất cho vùng sắn.
Bệnh khảm lá sắn: vì sao hom giống là chuyện sống còn
Bệnh khảm lá sắn do virus gây ra, được phát hiện ở nước ta lần đầu tại Tây Ninh vào năm 2017 rồi lan sang nhiều tỉnh trồng sắn khác. Cây bệnh có lá khảm vàng xanh loang lổ, lá nhăn, biến dạng, cây còi cọc; nhiễm sớm thì củ rất nhỏ hoặc gần như không có củ. Không có thuốc chữa cây đã nhiễm virus.
Virus lây theo hai đường: qua hom giống lấy từ cây bệnh, và qua bọ phấn chích hút truyền từ cây bệnh sang cây khoẻ. Trong đó đường hom giống làm bệnh đi xa nhất, vì hom được chở từ vùng này sang vùng khác. Một ruộng dùng hom bệnh thì ngay từ đầu đã có nguồn bệnh rải đều khắp ruộng.
Vì vậy biện pháp quan trọng nhất là: chỉ lấy hom từ ruộng không có triệu chứng khảm, tốt nhất từ ruộng nhân giống sạch bệnh được kiểm tra; dùng giống được cơ quan chuyên môn khuyến cáo có khả năng kháng hoặc chống chịu khi có; thăm đồng trong vài tháng đầu, thấy cây khảm thì nhổ bỏ, tiêu huỷ ngay và trồng dặm bằng hom sạch; không mua hom trôi nổi từ vùng có dịch. Khi phát hiện bệnh, báo cho cán bộ bảo vệ thực vật địa phương để theo dõi chung cả vùng.
Bệnh khảm lá cho thấy rõ một điều: với sắn, tiết kiệm tiền hom bằng cách xin hom trôi nổi có thể phải trả giá bằng cả vụ và cả nguồn bệnh để lại cho những vụ sau, cho cả hàng xóm. Một ruộng nhân giống nhỏ, chăm kỹ, kiểm tra thường xuyên trong làng hoặc trong tổ hợp tác là cách giữ nguồn hom sạch bền nhất.
Chọn hom và trồng: những chi tiết quyết định mầm và củ
Hom từ cây đủ tuổi, khoẻ. Thân giống lấy từ cây đủ tuổi thu hoạch, không sâu bệnh, đoạn giữa thân có mắt mầm chắc. Phần ngọn non dễ héo, phần gốc quá già nảy mầm kém.
Chặt hom sắc, không dập. Dao sắc chặt dứt khoát, hom không bị dập vỏ, giập mắt. Chiều dài và số mắt mỗi hom theo khuyến cáo phổ biến của vùng; hom quá ngắn ít dự trữ, mầm yếu.
Trồng sớm sau khi chặt. Thân giống cất lâu khô, mất sức. Nếu phải cất, để nơi râm mát, dựng đứng, tránh nắng và mưa trực tiếp.
Cách đặt hom theo đất. Đặt nằm, xiên hay đứng tuỳ tập quán và đất. Đất khô dễ mất ẩm thường đặt nằm hoặc xiên để hom tiếp xúc ẩm nhiều hơn; đất ẩm, nhiều mưa có thể đặt đứng. Quan trọng là đúng chiều mắt mầm và lấp đất vừa đủ.
Thời vụ theo mưa. Sắn thường trồng đầu mùa mưa để hom có ẩm bén rễ; một số vùng trồng cuối mùa mưa. Trồng muộn gặp hạn kéo dài thì tỷ lệ mọc thấp.
Giữ đất trên sườn dốc: đường đồng mức và băng cây chắn
Trên đất dốc, luống và hàng sắn chạy dọc theo sườn là đường cho nước mưa và đất mặt trôi xuống chân đồi. Trồng theo hàng ngang dốc, nối các điểm có cùng độ cao (đường đồng mức), mỗi hàng sắn và mỗi gờ đất trở thành một bậc chặn nước, cho nước thấm xuống thay vì chảy tràn.
Có thể làm thêm băng cây chắn theo đường đồng mức, cách nhau vài hàng sắn: băng cỏ vetiver, băng cỏ voi để cắt cho bò, hoặc băng cây họ đậu thân bụi như cốt khí, keo dậu. Theo thời gian, đất bị chặn lại phía trên băng, tạo thành những bậc thang tự nhiên, độ dốc giảm dần. Băng cỏ voi còn cho thức ăn xanh cho trâu bò, nối chuyện giữ đất với chuyện chăn nuôi của hộ.
Cần lưu ý không để băng cây quá rộng hoặc quá cao che bóng hàng sắn bên cạnh, và cắt tỉa định kỳ. Trên những sườn quá dốc, trồng sắn vốn không nên khuyến khích; những nơi đó hợp với rừng, cây lâu năm hoặc cỏ hơn. Quy định về sử dụng đất dốc, đất rừng khác nhau theo từng địa phương, nên hỏi chính quyền và khuyến nông trước khi khai mới.
Xen cây họ đậu trong ruộng sắn: được gì, cần chú ý gì
Những tháng đầu khi sắn chưa khép tán, khoảng trống giữa hàng có thể trồng một vụ cây họ đậu ngắn ngày. Bảng dưới tóm tắt các lựa chọn phổ biến:
| Cây xen | Lợi ích | Lưu ý |
|---|---|---|
| Lạc | Che phủ đất, có thu ngắn ngày, rễ có nốt sần | Trồng cách gốc sắn đủ xa; thu trước khi sắn che kín |
| Đậu xanh | Ngắn ngày, chịu hạn, phủ đất nhanh | Thu nhiều lứa, cần công hái |
| Đậu đen, đậu đỏ | Hợp đất nghèo, thân lá phủ dày | Không để leo quấn lên cây sắn |
| Cây phân xanh thân thấp | Sinh khối vùi lại cho đất | Không có thu nhập trực tiếp; cắt trước khi ra hạt nhiều |
| Không xen, chỉ phủ | Ít công; tàn dư, cỏ cắt phủ giữa hàng | Cần đủ vật liệu phủ |
Xen canh không tốt hơn trong mọi trường hợp: nếu đất quá nghèo, nước quá hạn, cây xen có thể tranh nước với sắn non. Thử trên một phần ruộng, quan sát cả sắn lẫn cây xen trước khi làm toàn bộ.
Lá và thân sắn: thức ăn cho vật nuôi, lớp phủ cho đất
Củ sắn mang đi khỏi ruộng nhiều dinh dưỡng, trong đó kali hụt trước, nên phần thân lá còn lại càng không nên bỏ phí. Ruộng trồng sắn nhiều năm mà chỉ bón đạm cho xanh cây thường thấy lá già vàng mép, cháy mép, củ nhỏ dần; chuyện bón cân đối cho sắn là phần dinh dưỡng riêng, ở đây chỉ bàn cách dùng thân lá cho đúng.
Thân lá sắn sau thu hoạch có giá trị. Lá sắn có hàm lượng đạm khá, được dùng làm thức ăn cho trâu bò, dê, cá sau khi phơi héo hoặc ủ chua; lá và củ sắn tươi chứa các hợp chất có thể giải phóng xyanua, nên với vật nuôi phải phơi, ủ đúng cách và cho ăn từ từ theo hướng dẫn chăn nuôi, không cho ăn lá tươi số lượng lớn. Phần thân, lá không dùng nên trả lại ruộng hoặc ủ phân, không đốt.
Phân chuồng hoai từ chuồng bò, chuồng heo bón cho ruộng sắn giúp tăng hữu cơ, giữ ẩm cho đất đỏ, đất xám vốn dễ khô. Vòng sắn – lá sắn – vật nuôi – phân chuồng – ruộng sắn là một vòng tuần hoàn hợp với nhiều nông hộ vùng đồi.
Thu hoạch sắn mà không để đất trôi
Lúc đào củ là lúc đất bị xới tung nhiều nhất trong cả vụ. Nếu thu vào cuối mùa khô rồi để ruộng trống chờ mùa mưa, những trận mưa đầu mùa sẽ cuốn lớp đất tơi đó xuống chân dốc. Nhiều vùng vì thế khuyến khích thu xong thì san lại đất theo hàng ngang dốc, rải thân lá, ngọn sắn không dùng làm lớp phủ, và trồng vụ mới hoặc gieo cây che phủ sớm.
Đào củ khi đất quá khô vừa tốn công vừa gãy củ; khi đất quá ướt thì đất bám nhiều, ruộng bị dẫm nén. Chọn lúc đất ẩm vừa là tốt cho cả người làm lẫn đất. Củ sắn sau khi nhổ hư rất nhanh nếu để lâu, nên chỉ thu lượng có thể chuyển đi hoặc chế biến trong thời gian ngắn; phần sau thu hoạch là một khâu riêng.
Một điểm nhỏ nhưng quan trọng: phần gốc củ, rễ con và đất bám để lại ruộng thay vì mang hết về sân. Mỗi vụ đất mất đi theo củ đã nhiều, không nên mất thêm theo đất bám.
Rệp sáp và các dịch hại khác: giữ ruộng khoẻ hơn là chạy theo thuốc
Rệp sáp bột hồng. Xuất hiện ở nước ta khoảng đầu những năm 2010, bám ở ngọn và mặt dưới lá, làm ngọn chùn lại, lá xoăn, cây chậm lớn; hại nặng trong mùa khô. Dùng hom sạch, không mang hom có rệp từ vùng khác, nhổ ngọn bị hại nặng, giữ thiên địch. Ở một số nơi, cơ quan chuyên môn đã nhân thả ong ký sinh để kiểm soát rệp sáp.
Nhện đỏ. Hại nặng trong mùa khô hạn, lá vàng, khô. Cây đủ nước, đủ dinh dưỡng chống chịu tốt hơn.
Bệnh chổi rồng, thối củ. Cây ra nhiều chồi nhỏ ở ngọn, củ thối khi đất úng. Dùng hom sạch, trồng nơi thoát nước, nhổ bỏ cây bệnh.
Nguyên tắc chung. Nhiều dịch hại sắn đi theo hom giống. Chọn hom sạch, luân canh, thăm đồng và báo cán bộ bảo vệ thực vật khi thấy bất thường là nền tảng; dùng thuốc chỉ khi được hướng dẫn, đúng loại đăng ký.
Câu hỏi thường gặp
Sắn trồng bao lâu thì thu hoạch?
Tuỳ giống và mục đích, thường từ khoảng bảy tháng đến hơn một năm. Giống ngắn ngày thu sớm hơn; sắn ăn tươi có thể nhổ sớm hơn sắn lấy tinh bột. Thời điểm thu còn tuỳ mùa mưa, vì đào củ khi đất quá ướt hoặc quá khô đều khó.
Làm sao nhận biết cây sắn bị khảm lá?
Lá có các mảng vàng xanh loang lổ, lá nhăn nheo, biến dạng, nhỏ lại; cây còi, ngọn có thể chùn. Triệu chứng rõ nhất ở lá non. Thấy cây như vậy, nhổ bỏ ngay, không lấy hom từ ruộng đó và báo cho cán bộ bảo vệ thực vật địa phương.
Có nên trồng sắn liên tục nhiều năm trên cùng một đất?
Nhiều nơi vẫn làm vậy, nhưng nếu không bón trả lại kali, hữu cơ và không chống xói mòn thì đất nghèo dần. Luân canh với cây họ đậu, ngô, hoặc nghỉ một vụ trồng cây phân xanh giúp đất phục hồi và cắt nguồn sâu bệnh.
Lá sắn cho bò, dê ăn có độc không?
Lá sắn tươi chứa hợp chất có thể giải phóng xyanua, cho ăn nhiều khi còn tươi có thể gây ngộ độc. Phơi héo, phơi khô hoặc ủ chua làm giảm đáng kể độc tính. Cho vật nuôi ăn tăng dần, phối với thức ăn khác và theo hướng dẫn thú y, khuyến nông.
Xen lạc vào sắn có làm giảm củ sắn không?
Nếu bố trí hợp lý, khoảng cách đủ, thu lạc trước khi tán sắn khép thì ảnh hưởng thường nhỏ, đổi lại có thêm sản phẩm và đất được che phủ. Đất quá hạn hoặc trồng lạc quá sát gốc có thể tranh nước, tranh dinh dưỡng với sắn non.
Thân sắn sau thu hoạch để làm gì?
Phần thân khoẻ, sạch bệnh được giữ làm hom giống cho vụ sau; phần còn lại có thể băm trả ruộng, ủ phân, hoặc dùng làm giá thể trồng nấm ở một số nơi. Không lấy hom từ cây bị khảm lá hay rệp sáp nặng.