Ngô là cây "háu ăn" đạm: nhu cầu tăng vọt từ khi cây có khoảng 8–10 lá tới trổ cờ phun râu, thiếu đúng lúc này là bắp nhỏ, hạt thưa. Sắn chịu được đất xấu nhưng hút nhiều kali để nuôi củ, và mỗi vụ củ mang đi khỏi ruộng một lượng kali đáng kể. Trồng ngô hay sắn liên tục trên đất dốc, đất xám mà không trả lại gì, đất mất dinh dưỡng theo củ, theo bắp và theo nước xói mòn, sau vài năm năng suất giảm rõ dù bón phân như cũ.
Bài này giải thích hai cây cần gì theo giai đoạn, nhận ra cây thiếu chất ngoài nương rẫy, và cách giữ đất không kiệt khi đây là cây chính của gia đình ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ hay duyên hải miền Trung. Kỹ thuật chống xói mòn đất dốc và cải tạo đất bạc màu chi tiết có ở các trang chuyên về đất; ở đây đứng ở góc dinh dưỡng cây.
Cây ngô ăn gì qua từng giai đoạn
Cây ngô non trong vài tuần đầu lớn chậm và hút ít. Đây là lúc cây đặt nền bộ rễ, và lân quan trọng nhất. Đất lạnh vụ đông, đất chua miền núi làm lân khó tiêu, ngô non có lá ánh tím đỏ ở mép và gân, nhất là sau những ngày rét. Phần lân thường được bón lót, đặt gần hàng gieo để rễ non chạm tới sớm.
Từ khoảng 8–10 lá trở đi, ngô bước vào giai đoạn lớn nhanh: thân vươn cao, lá mở liên tục, bên trong ngọn bông cờ và bắp đang hình thành. Đây là giai đoạn cây hút đạm và kali mạnh nhất cả vụ. Số hàng hạt và số hạt trên bắp được định ra trong quãng này, nên thiếu đạm, thiếu nước lúc ấy không bù lại được bằng bón muộn. Các quy trình trồng ngô vì thế đặt lần bón thúc quan trọng nhất trước khi cây trổ cờ.
Từ trổ cờ, phun râu tới chín sáp, cây chuyển chất vào hạt. Rễ vẫn hút nhưng phần lớn chất khô của hạt đến từ quang hợp của lá quanh bắp và từ chất tích trong thân. Giữ bộ lá xanh, không bị sâu cắn trụi hay bệnh khô lá lúc này quan trọng hơn bón thêm. Thiếu nước lúc phun râu làm râu khô, thụ phấn kém, bắp thiếu hạt đầu, gọi là bắp "hở đầu".
Nhìn tổng thể cả vụ, nhu cầu của cây ngô có dạng một đường cong: thấp ở đầu, vọt lên ở giữa, rồi chững lại. Lịch bón phân ngô của các địa phương thường được dựng để phân có mặt trong đất trước khi đường cong vọt lên, vì phân cần thời gian tan và rễ cần thời gian vươn tới. Bón đúng lúc cây đã cần gấp thì thường là đã muộn một nhịp, nhất là gặp lúc nắng hạn đất khô, phân không tan.
Nhận ra ngô thiếu chất ngoài nương
Thiếu đạm. Lá già vàng từ chóp lá chạy dọc gân giữa thành hình chữ V, cây thấp, thân nhỏ, bắp ngắn. Hay gặp sau mưa lớn trên đất dốc, khi đạm bị rửa trôi.
Thiếu lân. Lá non và lá giữa có màu tím đỏ ở mép, cây chậm lớn giai đoạn đầu, bắp có thể cong và thiếu hạt. Rõ nhất khi trời lạnh, đất chua.
Thiếu kali. Mép lá già cháy vàng rồi nâu bắt đầu từ chóp lá, thân yếu, dễ gãy đổ khi có gió, hạt ở đầu bắp không chắc. Đất cát, đất xám bạc màu dễ thiếu kali.
Thiếu kẽm. Lá non mới ra có sọc trắng hoặc vàng nhạt hai bên gân giữa, đốt thân ngắn, cây lùn. Hay gặp trên đất kiềm, đất được bón nhiều lân, hoặc đất bị bóc lớp mặt do san ủi.
Thiếu magie. Lá già có sọc vàng chạy song song giữa các gân, gân vẫn xanh, trông như lá có vằn. Gặp trên đất chua, rửa trôi mạnh.
Cần thận trọng. Mép lá cháy còn có thể do hạn, do thuốc trừ cỏ, do sâu đục thân. Đối chiếu với tình hình ruộng và hỏi cán bộ khuyến nông trước khi kết luận.
Cây sắn: chịu đất xấu nhưng không phải không cần ăn
Sắn nổi tiếng là cây sống được trên đất nghèo, đất dốc, đất cát, nơi các cây khác chịu thua. Điều đó đúng, nhưng sống được khác với cho củ tốt. Sắn có quan hệ cộng sinh với nấm rễ giúp hút lân trên đất nghèo, và chịu chua khá, nên ít bị chết vì đất xấu. Tuy vậy năng suất củ phụ thuộc nhiều vào kali và đạm.
Giai đoạn đầu, khoảng vài tháng sau trồng, cây sắn tập trung ra lá và rễ, nhu cầu đạm cao. Sau đó một số rễ bắt đầu phình thành củ, và kali trở thành chất quyết định: kali điều khiển việc chuyển tinh bột từ lá xuống củ. Củ sắn chứa nhiều kali, nên mỗi vụ thu hoạch, khi củ được đưa đi bán còn thân lá cũng bị mang đi hoặc đốt, ruộng mất phần lớn lượng kali cây đã hút. Đất xám, đất cát ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên vốn ít kali càng nhanh kiệt.
Bón quá nhiều đạm cho sắn lại làm cây ra thân lá rậm, cao vống, củ ít và nhỏ. Sắn đủ dinh dưỡng có tán cân đối, lá xanh, thân chắc; sắn thiếu kali lá già vàng cháy mép, rụng sớm, củ nhỏ, ít bột. Thiếu kẽm ở sắn non cũng hay gặp trên đất kiềm, lá non nhỏ, có vệt vàng nhạt giữa các gân, cây chậm lớn.
Vì sao đất trồng ngô, sắn liên tục lại bạc màu
Đất bạc màu có ba nguyên nhân cộng dồn. Nguyên nhân thứ nhất là dinh dưỡng bị mang đi theo sản phẩm: bắp ngô, củ sắn rời khỏi ruộng, thân lá nhiều nơi cũng bị mang về cho gia súc hoặc đốt dọn nương. Nếu phần bón vào ít hơn phần lấy đi, đất nghèo dần mỗi năm, nhất là kali, magie và các vi lượng vốn ít được bón.
Nguyên nhân thứ hai là xói mòn. Ngô và sắn trồng thưa, mặt đất để trống nhiều tháng, nhất là đầu mùa mưa khi cây còn nhỏ. Trên đất dốc miền núi phía Bắc hay đồi Tây Nguyên, mưa lớn cuốn đi lớp đất mặt, mà lớp này lại chứa phần lớn chất hữu cơ và dinh dưỡng. Ruộng mất lớp mặt sau nhiều mùa mưa thì đất lộ tầng dưới bạc trắng hoặc vàng nhạt, chai cứng.
Nguyên nhân thứ ba là chất hữu cơ giảm. Làm đất nhiều lần, không trả thân lá, đốt nương, khiến chất hữu cơ trong đất suy giảm. Đất ít hữu cơ giữ nước và giữ phân kém, phân bón vào dễ trôi, cây lại cần nhiều phân hơn để đạt cùng mức củ, bắp. Vòng luẩn quẩn này là lý do nhiều hộ thấy "phải bón ngày càng nhiều mà vẫn không bằng ngày trước".
Ngô lấy hạt và ngô sinh khối: lượng dinh dưỡng mang đi khác nhau
Những năm gần đây nhiều vùng chuyển một phần diện tích sang trồng ngô sinh khối, tức thu cả cây khi hạt đang ở giai đoạn chín sữa, chín sáp để ủ chua làm thức ăn cho bò. Với ngô lấy hạt, phần rời khỏi ruộng chủ yếu là bắp; thân lá có thể để lại. Với ngô sinh khối, gần như toàn bộ phần trên mặt đất bị mang đi. Kali, vốn nằm nhiều trong thân lá, vì thế bị lấy đi nhiều hơn hẳn so với ngô hạt trên cùng một diện tích.
Điều đó không có nghĩa trồng ngô sinh khối là xấu. Trong mô hình kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, ngô sinh khối đi vào chuồng bò rồi quay về ruộng dưới dạng phân chuồng. Vòng này chỉ khép lại nếu phân chuồng thực sự được ủ hoai và đưa trở lại đúng ruộng ngô, chứ không bị bán đi hay để chảy ra mương. Khi vòng bị hở, ruộng ngô sinh khối kiệt kali nhanh hơn ruộng ngô hạt.
Với ruộng trồng ngô sinh khối liên tục, bà con nên chú ý hơn tới phần kali và magie trong lượng phân bón, quan sát mép lá già có cháy không, và nếu có điều kiện thì phân tích đất sau vài vụ để biết đất đang trượt về phía nào. Ruộng trồng ngô hạt mà vẫn chở toàn bộ thân lá về chuồng thì cũng nên tính như ngô sinh khối.
Trả lại cho đất: việc làm được trên nương rẫy
Không có một biện pháp duy nhất, nhưng mỗi việc dưới đây giảm một phần thất thoát. Ghép càng nhiều việc, đất càng giữ được lâu.
- Trả thân lá ngô, thân lá sắn lại ruộng sau thu hoạch: băm nhỏ phủ mặt đất hoặc vùi, thay vì đốt. Thân ngô cũng có thể ủ làm thức ăn cho trâu bò rồi trả lại bằng phân chuồng.
- Trồng xen hoặc luân canh với cây họ đậu như lạc, đậu đen, đậu xanh, đậu nho nhe để vừa che phủ đất vừa bổ sung đạm.
- Bón cân đối, đừng chỉ bón đạm. Ruộng sắn, ngô lâu năm thường thiếu kali và magie; phân tích đất hoặc hỏi khuyến nông để biết đất đang thiếu gì.
- Trồng theo đường đồng mức, để băng cỏ hoặc cây phân xanh trên đất dốc cho nước chảy chậm lại, giữ lớp đất mặt.
- Trả phân chuồng hoai, phân ủ từ phụ phẩm vào hố, rạch trồng thay vì rải mặt để không bị trôi.
- Không để đất trống đầu mùa mưa: gieo sớm, trồng cây che phủ hoặc phủ thân lá cũ.
Phần lớn các việc này không tốn nhiều tiền, chỉ tốn công và thói quen. Hiệu quả không thấy ngay trong một vụ nhưng sau vài năm thì ruộng khác hẳn ruộng bên cạnh vẫn đốt nương và bón đạm đơn độc.
Ngô trên đất dốc và sắn trên đất xám: hai bối cảnh thường gặp
Ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, ngô trồng trên sườn đồi là cây lương thực và thức ăn gia súc chính của nhiều gia đình. Đất ở đây thường chua, giàu sắt nhôm, giữ lân mạnh, lại dốc nên rửa trôi lớn. Với ngô trên đất dốc, phân nên được đặt vào hốc gieo, lấp đất kín, chia làm nhiều lần thay vì rải mặt một lần, và phân hữu cơ giữ vai trò nền vì giúp đất giữ được phần dinh dưỡng bón vào.
Ở Đông Nam Bộ và một phần Tây Nguyên, sắn trồng nhiều trên đất xám bạc màu, đất cát pha, thoát nước tốt nhưng nghèo hữu cơ và kali. Đất này dễ làm, rễ củ phát triển thuận lợi, nhưng phân bón vào nhanh mất theo nước mưa. Ruộng sắn ở đây được lợi nhiều từ việc trả thân lá, trồng xen cây họ đậu đầu vụ và bón kali đủ vào giai đoạn củ bắt đầu lớn.
Ở duyên hải miền Trung, sắn và ngô trên đất cát, đất đồi thấp vừa chịu hạn mùa khô vừa chịu mưa lớn cuối năm. Dinh dưỡng ở đây đi cùng chuyện giữ nước: phủ đất, trồng đúng thời vụ để cây có bộ lá đủ lớn trước mùa mưa lớn, tránh để đất trống khi lũ về.
Câu hỏi thường gặp
Ngô cần bón thúc mạnh nhất vào giai đoạn nào?
Giai đoạn cây hút đạm và kali mạnh nhất là từ khoảng 8–10 lá tới trước trổ cờ, khi bắp và bông cờ đang hình thành bên trong. Thiếu phân và nước lúc này làm bắp nhỏ, ít hàng hạt, và bón muộn sau trổ không bù lại được. Lượng cụ thể nên theo khuyến cáo địa phương.
Lá ngô bị tím là thiếu chất gì?
Lá ngô non có màu tím đỏ ở mép và gân thường liên quan tới thiếu lân, hay gặp khi đất lạnh, đất chua làm lân khó tiêu. Một số giống ngô tự nhiên có sắc tím ở thân lá, và rét đậm cũng gây tím tạm thời. Nếu cây chậm lớn kèm tím kéo dài, nên xem lại phần lân bón lót.
Trồng sắn có cần bón phân không, hay để tự nhiên?
Sắn sống được trên đất nghèo nhưng muốn có củ tốt và giữ đất không kiệt thì cần bón, nhất là kali và phân hữu cơ. Không bón, đất cạn kiệt dần qua các vụ, củ ngày càng nhỏ. Bón quá nhiều đạm lại làm sắn tốt lá mà ít củ, nên cần cân đối.
Có nên đốt thân sắn, thân ngô để dọn nương không?
Không nên. Đốt làm mất chất hữu cơ, mất đạm và lưu huỳnh bay theo khói, tiêu diệt sinh vật có ích trong lớp đất mặt, gây khói bụi và nguy cơ cháy lan. Thân lá nên băm nhỏ phủ đất, vùi, ủ phân hoặc làm thức ăn gia súc rồi trả lại bằng phân chuồng.
Trồng ngô liên tục nhiều năm trên một mảnh có sao không?
Trồng liên tục làm đất mất dần những chất ngô lấy nhiều, sâu bệnh có nguồn tích luỹ từ vụ này sang vụ khác, đất dốc thì xói mòn cộng dồn. Luân canh hoặc xen với cây họ đậu, trả thân lá và bón cân đối giúp giảm các vấn đề này đáng kể.
Đất bạc màu có phục hồi được không?
Được, nhưng cần nhiều vụ chứ không trong một mùa. Các việc chính là tăng chất hữu cơ, che phủ đất, giảm xói mòn, trồng cây họ đậu và bón cân đối theo kết quả phân tích đất. Đất được phủ và trả hữu cơ đều đặn thường thấy rõ khác biệt sau vài năm.