Cây lúa không cần cùng một thứ suốt vụ: giai đoạn mạ sống phần lớn nhờ chất dự trữ trong hạt, giai đoạn đẻ nhánh cần đạm và lân để ra rễ, ra nhánh, giai đoạn làm đòng cần đạm vừa đủ cùng nhiều kali để nuôi bông, còn từ trổ tới chín cây chủ yếu chuyển chất từ thân lá vào hạt. Đạm quyết định số nhánh và độ xanh, kali và silic quyết định cây cứng, ít đổ, hạt chắc. Thừa đạm là lỗi phổ biến nhất: ruộng xanh mướt nhưng lúa yếu, dễ đổ và dễ nhiễm bệnh.
Bài này đi theo góc cây trồng: trong từng giai đoạn bên trong cây lúa đang xảy ra chuyện gì, chất nào được dùng vào việc gì, và bà con nhìn ruộng thế nào để biết lúa đang đủ, đang thiếu hay đang thừa. Cách tính kg phân và lịch chia lần bón cụ thể theo vùng đã có ở các trang chuyên về vật tư nông nghiệp; ở đây không lặp lại phần đó, chỉ giúp hiểu vì sao lịch bón được thiết kế như vậy để tự điều chỉnh cho ruộng nhà.
Giai đoạn mạ: cây sống nhờ hạt nhiều hơn nhờ đất
Khi hạt thóc nảy mầm, mầm và rễ đầu tiên lấy năng lượng từ nội nhũ, tức phần tinh bột trong hạt. Trong khoảng hai tới ba lá đầu, cây mạ còn dựa nhiều vào nguồn dự trữ này, bộ rễ mới hình thành và hút khoáng từ đất còn ít. Vì vậy hạt giống chắc, mẩy, không lẫn hạt lép quan trọng với cây mạ hơn bất cứ loại phân nào bón vào lúc này.
Sau giai đoạn đó cây bắt đầu tự nuôi mình bằng quang hợp và rễ. Lân là chất cây mạ cần sớm, vì lân tham gia vào việc chuyển hoá năng lượng trong tế bào và giúp rễ phát triển. Đất chua, đất phèn hay đất lạnh vụ đông xuân miền Bắc thường làm lân khó tiêu, cây mạ chậm lớn, lá có ánh tím hoặc xanh đậm bất thường. Đó là lý do quy trình ở nhiều vùng đặt lân vào phần bón lót trước khi gieo cấy chứ không để dành về sau.
Với lúa sạ, giai đoạn này trùng với lúc ruộng còn nhiều cỏ và ốc. Bón đạm quá sớm khi cây mạ chưa có bộ rễ đủ sức hút thì phần lớn đạm nuôi cỏ hoặc mất đi theo nước. Mạ cấy thì khác: mạ khoẻ, đanh dảnh, bộ rễ trắng khi nhổ lên mới bén rễ nhanh sau cấy. Ruộng mạ tốt là ruộng có mạ đều, lá xanh vừa phải, không vống cao vì bị ép đạm.
Đẻ nhánh: lúc lúa ăn đạm và lân mạnh nhất
Từ khi lúa bén rễ hồi xanh tới cuối đẻ nhánh, cây tăng số dảnh rất nhanh. Mỗi nhánh mới cần đạm để làm diệp lục và protein, cần lân để ra rễ và phân chia tế bào. Đây là giai đoạn quyết định số bông trên một khóm hay trên một mét vuông, nên các quy trình bón phân cho lúa đều dồn một phần lớn đạm vào khoảng đầu vụ.
Tuy nhiên không phải nhánh nào cũng thành bông. Nhánh đẻ sớm, khoẻ mới cho bông hữu hiệu; nhánh đẻ muộn thường yếu, tranh dinh dưỡng rồi lụi hoặc cho bông nhỏ. Cho lúa ăn đạm kéo dài sang cuối đẻ nhánh là nuôi chính những nhánh vô hiệu đó, khóm lúa rậm, chân ruộng ẩm và tối, sâu bệnh có chỗ trú. Nhiều nơi rút nước phơi ruộng nhẹ vào cuối đẻ nhánh cũng nhằm hãm việc hút đạm, cho cây chuyển sang giai đoạn sau gọn hơn.
Nhìn ruộng đẻ nhánh đủ dinh dưỡng: lá xanh tươi nhưng không xanh đen, dảnh xoè đều, gốc chắc. Thiếu đạm thì lúa vàng từ lá dưới lên, đẻ ít, khóm thưa. Thừa đạm thì lá dài, mềm, rủ xuống, màu xanh đậm, ruộng nhìn từ xa thấy mượt nhưng thân yếu. Thiếu lân thì lúa đẻ kém, lá hẹp, thẳng đứng, màu xanh tối, có khi ngả tím ở bẹ, khóm lúa nhỏ dù đạm không thiếu.
Làm đòng: đạm vừa đủ, kali lên hàng đầu
Khi lúa chuyển sang làm đòng, bên trong bẹ lá đòng một bông lúa non đang hình thành. Số gié, số hoa trên bông được định ra trong giai đoạn này. Cây cần đạm để có đủ hoa, nhưng chỉ vừa đủ; thiếu thì bông ngắn, ít hạt, thừa thì cây vống, lá đòng to và mềm, dễ đổ về sau. Vì vậy đạm bón ở giai đoạn đòng thường là lượng nhỏ, cân nhắc theo màu lá chứ không bón theo thói quen.
Kali là chất cây cần nhiều trong giai đoạn này. Kali không nằm trong cấu trúc của cây như đạm hay lân, nhưng điều khiển việc đóng mở khí khổng, việc vận chuyển đường trong cây và độ dày của thành tế bào. Lúa đủ kali thì thân cứng, lá đứng, chịu hạn và chịu rét khá hơn, ít bị bệnh trên lá. Thiếu kali thường thấy mép và chóp lá già cháy vàng nâu, cây dễ đổ, hạt lép nhiều.
Silic là chất ít được nhắc nhưng lúa hút rất nhiều, nhiều hơn hầu hết các cây trồng khác. Silic đọng ở thành tế bào lá và thân, làm lá cứng, đứng, sâu chích hút và nấm khó xâm nhập hơn. Nguồn silic chính của ruộng lúa là đất, nước tưới và rơm rạ trả lại ruộng. Ruộng đốt rơm hoặc mang rơm đi liên tục nhiều năm sẽ mất dần nguồn silic và kali này, lúa mềm yếu hơn dù lượng đạm bón không đổi.
Trổ, ngậm sữa và chín: cây tự chuyển chất vào hạt
Từ trổ bông trở đi, phần lớn chất khô của hạt đến từ hai nguồn: quang hợp của ba lá trên cùng, nhất là lá đòng, và phần đường, đạm đã tích trong thân, bẹ lá được chuyển lên. Rễ vẫn hút nhưng không còn là nguồn chính. Đó là lý do người làm lúa giữ lá đòng xanh, không rách, không bệnh lâu nhất có thể: lá đòng khoẻ thì hạt chắc.
Bón đạm muộn vào lúc lúa đã trổ ít khi có lợi. Cây hút đạm muộn sẽ xanh lâu, chín kéo dài, dễ bị bệnh trên bông và lá, lúc thu hoạch hạt có thể không đều. Ở giai đoạn này nhu cầu chính của cây là nước đủ trong lúc trổ và ngậm sữa, rồi rút cạn dần khi lúa chín để ruộng khô, dễ gặt. Bổ sung kali qua lá vào giai đoạn trổ được một số nơi áp dụng, nhưng chỉ có ý nghĩa khi ruộng thật sự thiếu kali chứ không thay được phần kali bón gốc từ trước.
Dấu hiệu lúa chín bình thường là lá dưới vàng dần, bông cong, hạt vàng từ đầu bông xuống. Khi đa số hạt trên bông đã vàng và chỉ còn ít hạt ở phần gốc bông hơi xanh là lúc bà con thường tính chuyện gặt. Lúa chín ép vì thiếu nước hoặc lá đòng bị bệnh sớm sẽ nhiều hạt lép, hạt lửng dù lúc làm đòng cây rất tốt.
Lúa trên đất phèn, đất mặn và ruộng ngập lâu: rễ hút kém dù phân đủ
Ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển Bắc Trung Bộ và một số vùng trũng đồng bằng sông Hồng, nhiều ruộng lúa có phèn hoặc nhiễm mặn theo mùa. Trên những ruộng này, vấn đề dinh dưỡng thường không nằm ở chỗ thiếu phân mà ở chỗ rễ lúa bị tổn thương nên không hút được. Đất phèn khi khô rồi ngập trở lại giải phóng sắt, nhôm hoà tan; lượng lớn những chất này gây ngộ độc rễ, rễ chuyển màu nâu đỏ, ít rễ mới, lá có đốm nâu và chóp lá vàng cam. Lân bón vào cũng bị sắt, nhôm giữ chặt, cây vẫn thiếu lân.
Với đất mặn, muối trong nước ruộng làm rễ khó hút nước, cây giống như bị hạn dù chân ruộng đầy nước; chóp lá trắng hoặc cháy, cây lùn, đẻ kém. Ruộng ngập sâu và lâu, nhất là khi vùi nhiều rơm tươi, thì thiếu ô xy ở vùng rễ, sinh khí độc, rễ đen và thối. Trong cả ba trường hợp, rải thêm phân không giải quyết được gì, có khi còn làm nồng độ muối trong đất tăng thêm.
Cách xử lý đi theo hướng chăm rễ trước, chăm lá sau: thay nước, rửa phèn, rửa mặn bằng nước ngọt khi có, giữ mực nước nông, rút nước phơi ruộng nhẹ để rễ thở, bón vôi trên đất phèn theo hướng dẫn địa phương, chọn giống chịu phèn, chịu mặn. Khi rễ đã hồi, ra rễ trắng mới, phân bón mới phát huy tác dụng. Đây cũng là lý do lịch bón phân cho lúa ở vùng phèn mặn thường khác vùng đất phù sa ngọt.
Bảng tóm lược: lúa cần gì, thiếu thừa thì thấy gì
Bảng dưới gom nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa theo bốn giai đoạn. Đây là nguyên lý chung cho lúa nước ở đồng bằng; lúa ruộng bậc thang, lúa trên đất phèn mặn có điều chỉnh riêng theo hướng dẫn của khuyến nông địa phương.
| Giai đoạn | Chất cây cần nhiều | Cây dùng vào việc gì | Dấu hiệu lệch thường gặp |
|---|---|---|---|
| Mạ (tới 3 lá) | Dự trữ trong hạt, lân | Ra rễ, ra lá đầu | Mạ vống khi ép đạm; mạ tím, chậm lớn khi đất lạnh, thiếu lân dễ tiêu |
| Đẻ nhánh | Đạm, lân | Tăng số dảnh, mở rộng bộ rễ | Vàng lá dưới, đẻ ít khi thiếu đạm; lá mềm rủ, rậm khóm khi thừa đạm |
| Làm đòng | Kali, đạm vừa đủ, silic | Hình thành bông, cứng thân | Cháy mép lá già khi thiếu kali; lá đòng to mềm khi thừa đạm |
| Trổ tới chín | Nước, chất tích trong thân lá | Chuyển chất vào hạt | Lép nhiều khi lá đòng bệnh hoặc thiếu nước lúc trổ; chín kéo dài khi đạm muộn |
Điểm cần nhớ từ bảng: đạm là chất của nửa đầu vụ, kali và silic kéo dài tới nửa sau. Lịch bón phân của địa phương thường đã phản ánh đúng nguyên lý này; điều bà con cần làm là quan sát ruộng nhà để tăng giảm cho hợp, chứ không phải bón thêm cho chắc ăn.
Đọc màu lá để biết lúa có đang đói đạm
Màu lá là cách đơn giản nhất để biết cây lúa đang đủ đạm hay không. Các viện nghiên cứu lúa, trong đó có Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), đã phát triển một tấm nhựa có các ô xanh từ nhạt tới đậm để so với lá lúa. Ở Việt Nam dụng cụ này được khuyến nông nhiều tỉnh giới thiệu dưới tên bảng so màu lá. Người dùng so lá thứ nhất tính từ trên xuống đã mở hoàn toàn, che bóng bằng thân mình để ánh nắng không làm sai màu, lấy nhiều khóm rồi tính trung bình.
Không có dụng cụ thì bà con vẫn có thể dùng mắt theo cách tương tự: chọn một khóm lúa khoẻ đã biết đủ phân làm mốc, so các vạt khác với khóm đó vào cùng một giờ trong ngày. Vạt nào vàng hơn rõ, lá dưới vàng nhanh là vạt đói đạm; vạt nào xanh đen, lá rủ là vạt thừa. Cách so này giúp bón bổ sung đúng chỗ thay vì rải đều cả ruộng.
Cần lưu ý màu lá bị ảnh hưởng bởi giống, thời tiết âm u, ruộng ngập úng, ngộ độc phèn hay bệnh rễ. Lá vàng do rễ bị thối vì ruộng ngập lâu hay do ngộ độc hữu cơ khi vùi rơm tươi chưa hoai thì bón thêm đạm không cứu được, còn làm nặng thêm. Trước khi kết luận lúa thiếu đạm, nhổ vài khóm xem rễ: rễ trắng, nhiều rễ mới là rễ khoẻ; rễ đen, có mùi thối là vấn đề nằm ở đất và nước.
Câu hỏi thường gặp
Lúa giai đoạn nào cần đạm nhiều nhất?
Lúa hút đạm mạnh nhất trong khoảng từ đẻ nhánh tới đầu làm đòng, vì đây là lúc cây tăng số dảnh và hình thành bông. Sau khi lúa trổ, nhu cầu đạm từ đất giảm hẳn vì cây chủ yếu chuyển chất từ thân lá vào hạt. Bón đạm muộn thường làm lúa chín kéo dài và dễ nhiễm bệnh.
Vì sao bón nhiều đạm mà lúa lại dễ đổ?
Đạm nhiều làm cây ra lá dài, mềm, lóng thân vươn cao và thành tế bào mỏng, trong khi kali và silic không tăng theo. Khóm lúa nặng ngọn mà thân yếu, gặp mưa gió lúc hạt đang vào chắc là đổ. Ruộng thừa đạm còn rậm, ẩm chân, tạo điều kiện cho rầy và bệnh phát triển.
Rơm rạ trả lại ruộng có giúp lúa không?
Có. Phần lớn kali và silic mà cây lúa hút được nằm lại trong rơm chứ không đi vào hạt, nên trả rơm về ruộng là trả lại một nguồn kali, silic đáng kể cho vụ sau. Rơm nên được xử lý cho hoai hoặc vùi sớm trước khi cấy để tránh ngộ độc hữu cơ, tuyệt đối không đốt.
Lúa làm đòng có cần phun phân bón lá không?
Không bắt buộc. Nếu phần bón gốc đã cân đối và ruộng không có dấu hiệu thiếu chất, phân bón lá ít tạo khác biệt. Phân bón lá chỉ nên dùng như biện pháp bổ sung khi rễ hút kém do ngập, phèn hoặc khi có dấu hiệu thiếu một chất cụ thể, và vẫn cần đọc kỹ hướng dẫn trên bao bì.
Lá lúa có ánh tím ở đầu vụ là do đâu?
Lá và bẹ ngả tím ở lúa non thường liên quan tới lân: đất lạnh, đất chua, đất phèn làm lân khó tiêu dù đã bón. Đợt rét đầu vụ đông xuân miền Bắc hay gây hiện tượng này tạm thời, trời ấm lên thì cây tự hồi. Nếu kéo dài, nên hỏi cán bộ khuyến nông và kiểm tra độ chua của đất.
Ruộng lúa bậc thang miền núi có cần bón giống đồng bằng không?
Nguyên lý cây cần gì theo giai đoạn vẫn giống nhau, nhưng ruộng bậc thang thường lạnh hơn, nước chảy qua liên tục nên phân dễ trôi, đất nhiều nơi nghèo lân. Bà con thường cần chia nhỏ lần bón, giữ bờ không để nước tràn mang phân đi và tăng phân chuồng hoai. Lượng cụ thể nên theo khuyến cáo của địa phương.